Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY SƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 19-12-2023

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Hiền.

2. Ông Nguyễn Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Kim Châu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 242/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thu N, sinh năm 1993 (Vắng mặt, có đơn).

Địa chỉ: Thôn TH, xã B, huyện T, Bình Định

- Bị đơn: Anh Châu Văn H, sinh năm 1983 (Vắng mặt lần 02).

Địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện T, Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Bùi Thị Thu N trình bày: chị và anh Châu Văn H tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau; được hai bên gia đình chấp nhận, tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục, nhưng không nhớ rõ ngày tháng năm. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã A vào ngày 13/10/2016. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được gần 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Lý do anh H không chí thú làm ăn, rượu chè cờ bạc về gây sự đánh đập nên thường xuyên kình cãi, xúc phạm nhau. Từ năm 2018 đến nay vợ chồng cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống, bỏ mặc, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm yêu thương gì nữa. Chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: chị và anh H không có con chung, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: chị và anh H không có tài sản chung, nợ chung gì; không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn anh Châu Văn H vắng mặt không có lý do: anh Châu Văn H đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, Quyết định xét xử nhưng vẫn vắng mặt, không cung cấp lời khai và yêu cầu đối với vụ án.

Biên bản xác minh ngày 02/10/2023, Công an xã A cung cấp: anh Châu Văn H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã A, huyện T, Bình Định; anh H có mặt ở địa phương, sinh sống tại địa chỉ trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu:

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, đa phần đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên còn có một vài vi phạm. N đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTT Dân sự 2015. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72, 73 BLTT Dân sự 2015.

Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 8, 9, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên xử: Chị Bùi Thị Thu N được ly hôn anh Châu Văn H. Về con chung: không có con chung nên miễn xét. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Bùi Thị Thu N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn là anh Châu Văn H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Thu N với anh Châu Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 13/10/2016 đúng theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới, vợ chồng chung sống đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do anh H không chí thú làm ăn, rượu chè cờ bạc về gây sự đánh đập nên vợ chồng thường xuyên kình cãi, xúc phạm nhau. Chị N và anh H đã cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau từ năm 2018. Vợ chồng xa cách đã lâu nhưng anh H vẫn bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị N yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị N và anh H chưa có con chung không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xét.

[4] Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: cân buộc chị Bùi Thị Thu N nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0007956 ngày 02/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị N đã nộp đủ án phí.

[6] Lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 8, 9 và 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Thu N:
    • - Về hôn nhân: chị Bùi Thị Thu N được ly hôn anh Châu Văn H.
    • - Về con chung: chưa có con chung nên Tòa không xét.
    • - Về tài sản chung: Không yêu cầu nên Tòa không xét.
  2. Về án phí ly hôn sơ thẩm:

    Chị Bùi Thị Thu N phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0007956 ngày 02/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị N đã nộp đủ án phí.

  3. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
  4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Tây Sơn;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn;
  • - UBND xã Tây An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Giang Nam

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2023/HNGĐ-ST ngày 19/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 63/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Thu N tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger