Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 63/2023/HS-PT

Ngày: 28/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Các Thẩm phán: Ông Võ Nguyên Tùng và ông Trần Minh Quang;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 55/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Thị Nguyệt Á và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Thị Nguyệt Á, (tên gọi khác: Ba K), sinh năm: 1956; Nơi cư trú: thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 9/12; con ông Phạm H (chết) và bà Nguyễn Thị C (chết); Có chồng Phạm Ngọc K1 (đã ly hôn) và 03 con, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1988; tiền sự: không; tiền án: Ngày 10/11/2020 bị TAND huyện Sơn Hoà, tỉnh Phú Yên tuyên phạt 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc (chấp hành xong ngày 09/9/2021). Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
  2. Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm: 1968; Nơi cư trú: thôn L, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Văn H2 (chết) và bà Đặng Thị S (chết); Có chồng Lê Văn C1 (chết) và 03 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 29/5/2020, bị Công an xã X, huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (đã chấp hành xong). Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

Ngoài ra, còn có các bị cáo Phạm Trung T, Lê Thị Thùy T1, Nguyễn Thành L, Nguyễn Hồng H3, Lương Văn P, Trịnh Thị X, Võ Minh T2, Nguyễn Thị L1 nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 31/7/2022, Phạm Trung T đến nhà Võ Minh T2, trú tại thôn L, xã X, huyện Đ chơi và trả tiền công phụ xe cho T2. Tại đây, T hỏi mượn nhà T2 để đánh bạc thắng thua bằng tiền với các đối tượng khác và sẽ góp trả tiền xâu cho T2. T2 đồng ý và bố trí cho T với những người khác đánh bạc ở nhà bà Nguyễn Thị L1 (mẹ vợ của T2). T gọi điện thoại cho Nguyễn Hồng H3 để rủ và nhờ gọi thêm người cùng đến nhà bà L1 đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài cào ba lá. H3 đồng ý và gọi điện rủ Nguyễn Thành L; thời điểm trên bà Nguyễn Thị Ngọc H1 và Lê Thị Thùy T1 đang ngồi nói chuyện gần đó nghe thông tin có đánh bạc nên đến nhà bà L1 để cùng tham gia đánh bạc.

Khi đến nhà bà L1 thì T2 bố trí một phòng ngủ, chuẩn bị một cái đĩa, một cái mền và mua năm bộ bài tây cho T, Hồ N, L, T1 và Ngọc H1 đánh bạc. Cả nhóm thống nhất đánh bạc làm cái xoay vòng ba ván, mỗi người đã cược từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng; mỗi lượt làm cái ai thắng liên tục ba vẫn thì góp tiền xâu 20.000 đồng, thắng hai ván thì góp tiền xâu 10.000 đồng cho T2. Riêng T2 ngồi ngoài xem, không tham gia đặt tiền và thu tiền xâu từ các đối tượng thắng bạc góp. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, bà L1 đi chơi về nhà để ngủ thì gặp T2 nên T2 nói với bà L1 qua nhà Tân ngủ để cho T2 mượn nhà để đánh bạc có gì sáng mai T2 cho ít tiền để đi chợ. Nghe vậy nên bà L1 sang nhà T2 để ngủ. Sòng bạc diễn ra liên tục đến khoảng 08 giờ sáng ngày 01/8/2022 thì Phạm Thị Nguyệt Á, Lương Văn P, Trịnh Thị X lần lượt đến sòng bạc để tham gia đánh bạc. Quá trình đánh bạc T, Hồng H3, P và L làm bốn tụ chính để đánh bạc làm cái xoay vòng còn T1, Ngọc H1, X và Á theo đặt cược ở những tụ chính. Mỗi bị cáo tham gia đặt cược mỗi ván từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng; tổng số tiền trên chiếu bạc khoảng từ 200.000 đồng đến 600.000 đồng. Việc đánh bạc diễn ra liên tục đến khoảng 10 giờ ngày 01/8/2022 thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 300.000 đồng và thu giữ trên người các đối tượng số tiền 67.799.000 đồng (trong đó số tiền sử dụng để đánh bạc là 18.280.000 đồng). Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 18.580.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2023/HSST ngày 24/8/2023 của TAND huyện Đồng Xuân đã tuyên bị cáo Phạm Thị Nguyệt Á, Nguyễn Thị Ngọc H1 phạm tội “Đánh bạc”; Áp dụng 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Thị Nguyệt Á 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 BLHS; Phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H1 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với các bị cáo khác; phần xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/8/2023, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H1 kháng cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc chuyển sang hình phạt chính là phạt tiền.

Ngày 05/9/2023, bị cáo Phạm Thị Nguyệt Á kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt chính là phạt tiền.

Tại phiên toà, các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ c, đ khoản 1 Điều 357 BLTTHS; Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị Nguyệt Á1, Nguyễn Thị Ngọc H1 – Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo;

Tuyên bố: các bị cáo Phạm Thị Nguyệt Á, Nguyễn Thị Ngọc H1 phạm tội “Đánh bạc”;

Áp dụng 1 Điều 321; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Thị Nguyệt Á – 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 BLHS; Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H1 – 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ, tỉnh Phú Yên nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H1 cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã X trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 31/7/2022 đến 10 giờ ngày 01/8/2022 tại thôn L, xã X, huyện Đ, Võ Minh T2 đã có có hành vi mượn nhà bà Nguyễn Thị L1 và được bà L1 đồng ý, sau đó chuẩn bị địa điểm, dụng cụ cho Phạm Trung T, Lê Thị Thùy T1, Nguyễn Thành L, Nguyễn Hồng H3, Nguyễn Thị Ngọc H1, Phạm Thị Nguyệt Á, Lương Văn P, Trịnh Thị X đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài cào ba lá. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 18.580.000đ. Do đó, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Phạm Trung T, Lê Thị Thùy T1, Nguyễn Thành L, Nguyễn Hồng H3, Nguyễn Thị Ngọc H1, Phạm Thị Nguyệt Á, Lương Văn P, Trịnh Thị X, Võ Minh T2, Nguyễn Thị L1 về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Đối với bị cáo Phạm Thị Nguyệt Á: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có tiền án về tội đánh bạc chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội cùng loại nên cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội để xử phạt bị cáo 06 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, xét bị cáo tuổi đã cao, tham gia đánh bạc với số tiền chỉ 50.000đ, bị cáo đánh bạc ké theo các trụ chính, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo được Bộ trưởng Bộ Y tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp dân số; được Sở y tế tỉnh P tặng giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác 5 năm liền (từ năm 2003 – 2008), được các ban ngành tặng nhiều giấy khen và bị cáo cung cấp biên lai thể hiện bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, áp dụng quy định tại Điều 54 BLHS, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[2.1] Đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H1: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn tham gia đánh bạc. Trước đây, bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, mặc dù đã hết thời hạn được coi là bị xử lý hành chính nhưng lại thực hiện hành vi phạm tội cùng tính chất, lẽ ra cần phải xử phạt nghiêm. Tuy nhiên, xét bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền 200.000đ, số tiền đánh bạc mỗi ván 10.000đ, tính chất sát phạt không cao, bị cáo chỉ đánh bạc ké theo các trụ chính. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo đang bị bệnh mãn tính phải điều trị nhiều bệnh: nhiễm độc giáp, viêm gan mạn, viêm bàng quang, viêm xoang hàm cấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, không cần áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Bị cáo không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc hộ cận nghèo nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[3] Các bị cáo kháng cáo được chấp nhận không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c, đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Nguyệt Á và chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H1 – Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo;

Tuyên bố: các bị cáo Phạm Thị Nguyệt Á, Nguyễn Thị Ngọc H1 phạm tội “Đánh bạc”;

1. Về hình phạt:

- Áp dụng 1 Điều 321; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Nguyệt Á – 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ, tỉnh Phú Yên nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H1 cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã X trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Phạm Thị Nguyệt Á, Nguyễn Thị Ngọc H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao Đà Nẵng (1);
  • - VKSND cấp cao Đà Nẵng (1);
  • - TAND huyện Đồng Xuân (2);
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - VKSND H.Đồng Xuân (1);
  • - Công an H. Đồng Xuân (1);
  • - Sở tư pháp (1);
  • - PV06 (1);
  • - Người TGTT;
  • - P.KTNV (1)
  • - Lưu án văn (1); lưu hồ sơ (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 63/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Nguyệt A và đp Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger