Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 63/2022/HS-PT

Ngày 19 tháng 01 năm 2022

“Trần Văn T2 và đồng phạm
Trộm cắp tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Công

Các thẩm phán: Ông Võ Văn Khoa
Bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 214/2021/TLPT-HS ngày 14 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo Phạm Thanh T và bị cáo Nguyễn Đức T1 do hai bị cáo kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2021/HS-ST ngày 08/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Thanh T, sinh năm 1972 tại tỉnh Thanh Hóa; Thường trú: Thôn Thọ Khang, xã Đông Lĩnh, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Tạm trú: Ấp Phú Trung, xã Phú Chánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Trọng Vũ và bà Đàm Thị Bổn; Có vợ Bùi Thị Sinh và 02 con sinh năm 2006 và 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa từng vi phạm pháp luật; Bị tạm giam từ ngày 29/11/2018 đến ngày 09/4/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giam, bắt lại từ ngày 10/8/2020 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Đức Triệu, sinh năm 1985 tại tỉnh Thanh Hóa; Thường trú: Khu phố 1, phường Đông Cương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Tạm trú: Số 570, Khu phố Phú Hòa, phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức Mợn và bà Nguyễn Thị Chênh; Có vợ Lê Thị Loan và 02 con sinh năm 2011 và 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa từng vi phạm pháp luật; Bị tạm giam từ ngày 03/9/2020 đến ngày 16/11/2020 đặt tiền bảo đảm tại ngoại đến nay – Vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thanh T: Luật sư Nguyễn Trọng Nam – Giám đốc Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Luật sư Nam thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt;

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Đức T1: Luật sư Đỗ Hải Bình, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt;

Ngoài ra còn có 03 bị cáo khác, 01 người bị hại và 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Sản xuất Thương mại Vận tải Linh Hương (sau đây viết tắt là Công ty Linh Hương) bán mủ cao su cho Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu tổng hợp Bình Phước (Công ty Bình Phước); Công ty Bình Phước thuê Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Hợp Tiến (Công ty Hợp Tiến) vận chuyển mủ cao su xuống cảng Cát Lái để xuất khẩu.

Nguyễn Mạnh H là tài xế của Công ty Hợp Tiến được giao nhiệm vụ điều khiển xe container vận chuyển mủ cao su từ Công ty Linh Hương đến cảng Cát Lái. Do quen biết nhau nên Trần Văn T2 rủ H trộm mủ cao su với cách thức: Khi nào H vận chuyển mủ cao su xuống cảng thì H điện thoại báo cho T2 biết trước để T2 báo cho người mua chuẩn bị địa điểm, người bốc vác để sang hàng, phương tiện chở hàng và tiền để thanh toán. Sau đó T2 điện thoại cho H điều khiển xe đến địa điểm theo sắp xếp của T2 để cùng đục niêm phong lấy bớt mủ cao su trong container để bán, rồi niêm phong lại như cũ để H tiếp tục đưa container xuống cảng giao hàng.

T2 xin được số điện thoại của Phạm Thanh T là chủ cơ sở thu mua phế liệu “T Đức Phát” rồi liên lạc thì T đồng ý mua mủ cao su, nhưng chưa biết giá nên hẹn với T2 sẽ liên lạc lại sau. T liên hệ để bán mủ cao su cho Đàm Văn C là chủ cửa hàng sắt thép Minh C để hưởng chênh lệch. C kêu em vợ là Nguyễn Đức T1 tìm nơi tiêu thụ mủ cao su thì T1 liên hệ được người tên là T3 (chưa rõ lai lịch) đồng ý mua mủ cao su vàng giá 26.000 đồng/Kg, mủ đen giá 21.000 đồng/Kg rồi báo lại cho C biết. C điện thoại báo cho T biết đồng ý mua giá mủ vàng 24.000 đồng/Kg, mủ đen giá 19.000 đồng/Kg, địa điểm giao hàng, bốc vác, vận chuyển là do C lo và sẽ trả tiền ngay sau khi nhận hàng. T báo lại cho T2 giá mủ vàng 16.000 đồng/Kg, mủ đen giá 14.000 đồng/Kg. Mỗi lần lấy mủ, T1 điều khiển xe ô tô tải loại 2,5 tấn, biển số 54T-8085 của T1 để chở cao su. Số tiền thu được do chênh lệch giá thì T1 và C chia đôi.

Quá trình mua bán, Phạm Thanh T, Đàm Văn C và Nguyễn Đức T1 hoàn toàn nhận thức được mua bán hàng hóa không có hóa đơn chứng từ, không rõ nguồn gốc, mua bán lén lút vào ban đêm, khi lấy hàng phải đục phá niêm phong, nhưng vì hám lợi nên vẫn bất chấp để mua rẻ bán lại kiếm lời.

Với cách thức trên, Trần Văn T2 cùng Nguyễn Mạnh H đã 05 lần trộm mủ cao su để bán cho Phạm Thanh T và đồng bọn như sau:

  • Lần thứ nhất vào ngày 03/7/2017...
  • Lần thứ hai vào ngày 04/7/2017...
  • Lần thứ ba vào ngày 05/7/2017...
  • Lần thứ tư vào ngày 07/7/2017...
  • Lần thứ năm vào ngày 09/7/2017...

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Thanh T và đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T1 đều đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo trong vụ án phù hợp với nhau và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để xác định do có sự hứa hẹn trước của Nguyễn Đức T1, Đàm Văn C, Phạm Thanh T nên Trần Văn T2 và Nguyễn Mạnh H đã lấy trộm mủ cao su để bán cho Phạm Thanh T, rồi Phạm Thanh T bán lại cho Đàm Văn C và Nguyễn Đức T1 mang đi tiêu thụ để hưởng chênh lệch giá. Các bị cáo đã thực hiện trót lọt 05 lần, trộm được tổng số 1.196 bành mủ cao su trị giá 1.363.445.645 đồng. Do đó, Bản án sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T và bị cáo Nguyễn Đức T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự...

2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thanh T; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T1; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm 19/2021/HS-ST ngày 08/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về hình phạt đối với bị cáo Phạm Thanh T.

2.1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T và bị cáo Nguyễn Đức T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2.2. Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2020 và được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 29/11/2018 đến ngày 09/4/2019.

2.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án và được khấu trừ thời gian đã tạm giam trước, từ ngày 03/9/2020 đến ngày 16/11/2020.

Nơi nhận:
- Chánh án TANDTC;
- VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- Công an tỉnh Bình Dương;
- Các Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương, Thanh Hóa;
- Cục THADS tỉnh Bình Dương;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dương;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Phạm Văn Công
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2022/HS-PT ngày 19/01/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 63/2022/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/01/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger