Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH TRÀ VINH


Bản án số: 63/2021/HS–ST
Ngày 19-10-2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Thành Công
  • 2. Ông Nguyễn Văn Thắng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2021/HSST ngày 18 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2021/QĐXXST – HS, ngày 04 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 03 tháng 9 năm 2002 (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Thợ làm móng tay; Trình độ học vấn lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1978; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28 tháng 02 năm 2021 đến nay.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị K (Đã chết);

Nơi cư trú trước khi chết: ấp T, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1981 (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1975 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
  2. Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1978 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Đồng nơi cư trú: ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
  3. Anh Trần Duy H, sinh năm 1985 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
  4. Chị Hồ Thị Thu P, sinh năm 1987 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Đồng nơi cư trú: ấp L, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
  5. Anh Trần Thanh T, sinh năm 1993 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Nơi cư trú: Khóm S, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
  6. Anh Lâm Thành N, sinh năm 1984 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Nơi cư trú: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
  7. Anh Trần Quốc T, sinh năm 1992 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Nơi cư trú: ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Người làm chứng:

  1. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1967 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Nơi cư trú: ấp N, xã B, huyện L, tỉnh Trà Vinh.
  2. Chị Huỳnh Quế N, sinh năm 2002 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 16 tháng 01 năm 2021, Nguyễn Huỳnh N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 64V2-xxxx đến Bến Phà B đón Nguyễn Thị K đến Sở Giao thông Vận tải tỉnh Trà Vinh để K dự thi giấy phép lái xe hạng A1. Tại đây, N giao xe môtô hai bánh biển kiểm soát: 64V2- xxxx cho K điều khiển chở N ngồi sau tham gia giao thông (N biết rõ K không đủ điều kiện điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 64V2- xxxx tham gia giao thông do không có giấy phép lái xe). Đến khoảng 06 giờ 40 phút, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 64V2- xxxx chở N ngồi sau lưu thông trên Quốc lộ 53 hướng huyện L đi thành phố T đến địa phận Km 50 + 970 mét Quốc lộ 53 thuộc ấp N, xã B, huyện L, tỉnh Trà Vinh thì lấn sang phần đường bên trái hướng đi va chạm vào xe ôtô tải biển kiểm soát 64C-050.xx do Trần Quốc T điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại. Tai nạn xảy ra, K bị thương nặng được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh cấp cứu và tử vong.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 38/KLGĐ, ngày 18 tháng 01 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận: Nguyên nhân chính dẫn đến Nguyễn Thị K tử vong là do đa chấn thương.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường xác định nơi xảy ra tai nạn trên đường Quốc lộ 53 thuộc ấp N, xã B, huyện L, tỉnh Trà Vinh.

...

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự...

[3]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Huỳnh N vắng mặt không có lời trình bày. Tuy nhiên, qua lời khai của bị cáo; Người địa diện hợp pháp cho bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại Cơ quan điều tra là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do cơ quan Điều tra Công an huyện L thu thập được. Do vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện L quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Huỳnh N về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật hình sự là phù hợp với qui định của pháp luật, không oan, không sai.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh N phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

- Căn cứ: Điều 268 và Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh N 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), nộp vào ngân sách nhà nước.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Người đại diện hợp pháp cho bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Giao trả cho bị cáo Nguyễn Huỳnh N 01 (một) giấy phép lái xe số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Trà Vinh cấp ngày 23/09/2020;

Giao trả cho ông Nguyễn Văn Y 01 (một) xe mô tô hiệu Sirius màu đen – trắng, biển kiểm soát 64V2-2490 và các giấy tờ liên quan;

Giao trả cho chị Hồ Thị Thu P 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định và bảo hiểm xe ô tô tải biển kiểm soát 64C-050.xx;

Giao trả cho anh Trần Quốc T 01 (một) giấy phép lái xe số [...].

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh N nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Trà Vinh;
- VKSND huyện, tỉnh;
- CCTHADS huyện L;
- Công an huyện L;
- Bị cáo;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Nhật Thành
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2021/HS–ST ngày 19/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Trà Vinh về giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 63/2021/HS–ST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/10/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Trà Vinh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger