Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 628/2024/HS-ST

Ngày: 21-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trang Văn Hai
  2. Bà Thiều Thị Phi Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường 5 - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 643/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 641/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, đối với:

- Bị cáo: Huỳnh Châu  (tên gọi khác: không). Giới tính: Nữ. Sinh năm 1968, tại tỉnh Cà Mau. Nơi đăng ký thường trú: ấp C, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau. Nơi cư trú: không có nơi ở nhất định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: Lớp 03/12. Nghề nghiệp: giúp việc nhà. Họ tên cha: Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1936 (đã chết). Họ tên mẹ: Lâm Thị Ú, sinh năm 1945 (còn sống). Chồng: Phan Văn L, sinh năm 1962 (hiện bị cáo không còn sống chung với anh L); có 03 con chung, con lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1995. Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2024, chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Chị Trương Thị Duy L1, sinh năm 1975.

1

Địa chỉ: E, tổ C, khu phố E, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung vụ án

Đầu năm 2024, chị Trương Thị Duy L1 thuê Huỳnh Châu  (lúc này  lấy tên là Huỳnh Thị K, K là em gái của Â) làm giúp việc tại nhà của chị L1 địa chỉ E, tổ C, khu phố E, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quá trình làm việc tại nhà chị L1,  phát hiện trong phòng ngủ nhà chị L1 có 01 (một) két sắt dùng để cất tài sản nên  nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong két sắt của chị L1.

Thực hiện ý định trên vào khoảng cuối tháng 6/2024, Â sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5s, số Imei: 86863040927471 lên mạng tìm kiếm cách thức mở khóa két sắt. Sau khi biết cách mở khóa két sắt, Âu âm thầm tìm hiểu, biết mật khẩu và có được chìa khóa két sắt của chị L1.

Khoảng giữa tháng 7/2024, chị L1 nhận thấy tiền chị để trong két sắt thường bị mất nhưng không xác định được số tiền đã mất, đến khoảng 06 giờ 30 phút chị L1 mở két sắt phát hiện bị mất số tiền 71.000.000 đồng (bảy mươi mốt triệu đồng) nhưng không xác định được người đã lấy trộm tiền của mình. Chị L1 nói cho anh Lê Văn B là con rể biết, anh B bí mật đi mua Camera gắn trong phòng của chị L1 để theo dõi.

Đến khoảng 13 giờ 40 phút ngày 17/7/2024, các thành viên trong gia đình chị L1 đi vắng, trong nhà chị L1 chỉ có một mình Â,  đi vào phòng ngủ của chị L1,  đeo bao tay bằng nilon để tránh bị phát hiện, rồi lấy chìa khóa tra vào ổ khóa két sắt, nhập mật khẩu mở khóa két sắt lấy trộm số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng). Sau khi lấy trộm tiền,  cất giấu số tiền trộm cắp được trong túi áo khoác của A. Thông qua camera trong phòng ngủ, chị L1 phát hiện Âu là người đã lấy trộm tiền của mình nên đã đi về nhà hỏi  thì  thừa nhận đã lấy trộm số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng) trong két sắt của chị L1, chị L1 báo Công an phường B lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền.

  • - Lời khai của bị can (bút lục số 69-80).
  • - Lời khai của bị hại (bút lục số 83-88).

2. Về vật chứng của vụ án

- Số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng) gồm 42 (bốn mươi hai) tờ tiền Polime mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) của chị Trương Thị Duy L1 bị Â trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi, trả lại cho chị L1;

2

- 01 (một) chiếc áo khoác vải màu hồng là đồ dùng cá nhân của Â, Â dùng để cất giấu số tiền trộm được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho Â.

- 01 (một) chiếc chìa khóa két sắt, Â sử dụng để mở khóa két sắt lấy trộm tiền của chị L2, nhưng A không thừa nhận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu giữ được.

- 01 (một) tờ giấy ghi số “12-06-75” là mật khẩu két sắt của chị Trương Thị Duy L1, thu giữ trong đồ dùng cá nhân của Â, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tạm giữ khi khám xét nơi ở của  được lưu tại hồ sơ vụ án;

- 01 (một) USB chứa đoạn video ghi nhận diễn biến quá trình  thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tạm giữ được lưu tại hồ sơ vụ án;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A5s, số Imei: 86863040927471, là công cụ Â dùng để truy cập vào các website để tìm cách mở khóa két sắt, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang tạm giữ;

Quá trình khám xét nơi ở của Huỳnh Châu  thu giữ:

  • + Số tiền 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm ngàn đồng);
  • + 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng dạng mắt xích (không rõ trọng lượng), dài khoảng 48cm;
  • + 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng (không rõ trọng lượng), loại nhẫn trơn, có ký hiệu “Ngọc Lam Anh 5P 9999” có đường kính 1,5cm;
  • + 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng (không rõ trọng lượng), dạng hoa văn, không rõ ký hiệu, đường kính 1,5cm;
  • + 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng (không rõ trọng lượng), dạng hoa văn;
  • + 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng (không rõ trọng lượng), dạng nhẫn trơn không rõ ký hiệu, dường kính 1,7cm đính hột trắng, không có ký hiệu, đường kính 1,6cm;
  • + 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng (không rõ trọng lượng), dạng đính hột, có ký hiệu “TTRI 610", đường kính 1,7cm;
  • + 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng (không rõ trọng lượng), có đính hình động vật, không có ký hiệu, đường kính 1,7 cm;
  • + 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng (không rõ trọng lượng), dạng đính đá hoa văn, không có ký hiệu, đường kính 1,7cm;
  • + 01 (một) lắc tay bằng kim loại màu vàng (không rõ trọng lượng), có ký hiệu HP, đường kính 5, 5 cm;
  • + 01 (một) sợi dây kim loại màu vàng (không rõ trọng lượng) dạng mắt xích không có ký hiệu, dài 15,5cm;

3

  • + 01 (một) sợi dây kim loại màu vàng (không rõ trọng lượng) kèm theo mặt dây chuyền hình bông hoa, không có ký hiệu, dài 48cm;
  • + 01 (một) sợi dây chuyền dạng chuỗi hột tròn (không rõ trọng lượng), không có ký hiệu, dài 16,5cm;
  • + 01 (một) lắc kim loại màu vàng (không rõ trọng lượng), không có ký hiệu, đường kính 05cm;
  • + 01 (một) đôi bông tai kim loại màu vàng (không rõ trọng lượng) dạng đính hột, không có ký hiệu, kích thước 1,1×1,1cm.

Đây là tài sản cá nhân của  không liên quan đến hành vi phạm tội của Â,  đề nghị giao lại cho con trai là anh Phan Thái C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao lại cho anh C (bút lục 104).

3. Về trách nhiệm dân sự

Chị Trương Thị Duy L1 đã nhận lại số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng) và yêu cầu Huỳnh Châu  tiếp tục bồi thường cho chị L1 số tiền 71.000.00 đồng (bảy mươi mốt triệu đồng),  chưa bồi thường số tiền trên.

4. Truy tố

- Bản cáo trạng số: 624/CT-VKSBH-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Huỳnh Châu  về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tuyên bố bị cáo Huỳnh Châu  phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo trình bày không có sự chuẩn bị từ trước nhằm thực hiện hành vi phạm tội là không phù hợp với lời khai của bị hại và sự thật khách quan của vụ án, không có sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử không cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Châu  mức án từ 16 tháng đến 20 tháng tù.
  • + Xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

5. Ý kiến của bị cáo

- Tại phiên tòa bị cáo trình bày: bị cáo thừa nhận đã lấy trộm của chị L1 số tiền 21.000.000 đồng như cáo trạng đã truy tố nhưng bị cáo không lên kế hoạch trước, bị cáo lên mạng tìm hiểu cách thức sử dụng két sắt mục đích chính là để mua két sắt cất tài sản cá nhân, bị cáo cũng không thu thập mật khẩu két sắt của chị L1.

4

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của chị L1 nhưng không thừa nhận có sự chuẩn bị trước khi phạm tội. Tuy nhiên, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ như: biên bản kiểm tra dữ liệu camera, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản thu giữ tài liệu, đồ vật, biên bản khám xét, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của bị hại. Đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 17/07/2024, tại địa chỉ E, tổ C, khu phố E, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Huỳnh Châu  đã có hành vi trộm cắp số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng) gồm 42 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) của chị Trương Thị Duy L1. Sau đó  bị phát hiện, khởi tố để điều tra xử lý theo quy định.

Như vậy, bị cáo Huỳnh Châu  đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Trương Thị Duy L1. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố và viện dẫn.

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo biết việc chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được Nhà nước bảo vệ, làm mất trật tự xã hội tại địa phương.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Tình tiết tăng nặng: không.
  • + Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

5

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai không có sự chuẩn bị để thực hiện hành vi phạm tội là không phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, thể hiện không có sự thành khẩn khai báo và không thực sự ăn năn nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Từ những nhận định trên, kết hợp với nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung nhưng vẫn đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[3] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Trương Thị Duy L1 đã nhận lại số tiền 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) nên không xem xét, giải quyết.

Đối với số tiền 71.000.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu đồng) chị L1 tố giác bị cáo  trộm cắp trong sáng ngày 17/7/2024: bị hại Trương Thị Duy L1 không chứng minh được nguồn gốc số tiền này, khi chị L1 bỏ tiền vào két sắt cũng không ai chứng kiến, không ai biết chị L1 có bao nhiêu tiền trong két sắt, bị cáo  khai nhận không trộm cắp số tiền trên. Căn cứ diễn biến vụ án cho thấy trong quá trình giúp việc nhà, bị cáo  đã quan sát biết mật mã mở két sắt, chìa khóa của chị L1, chị L1 khai báo bị mất thêm 71.000.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu đồng) nhưng ngoài lời khai của chị L1 và bị cáo  ra thì không có tài liệu, chứng cứ khác nên không có đủ cơ sở xác định có việc mất tài sản khác. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của chị L1 về việc yêu cầu bị cáo  bồi thường số tiền 71.000.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu đồng). Chị L1 có quyền khởi kiện yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền trên bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S số imeil 1: 868683040927471 Huỳnh Châu  sử dụng vào việc phạm tội.

(Vật chứng nêu trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

6

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 106, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Châu  phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt Huỳnh Châu  16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ 17-7-2024.

  3. Về xử lý vật chứng:
  4. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S số imeil 1: 868683040927471 Huỳnh Châu  sử dụng vào việc phạm tội.

    (Vật chứng nêu trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/11 /2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm:
  6. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí.

  7. Quyền kháng cáo:
  8. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán

7

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về Trật tự xã hội –Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự – Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phú

8

9

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 628/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 628/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Châu Âu trộm cắp tài sản (điều 173)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger