Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - H phúc

Bản án số: 628/2024/DS-ST

Ngày: 10/7/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Đăng Hà

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Dương Thị Hồng Nga

Bà Nguyễn Thị Túy Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Ánh Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Nam Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại phòng xử án của Toà án nhân dân quận Phú Nhuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 814/2023/TLST-DS ngày 11/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST-DS ngày 05/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐST-DS ngày 19/6/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V

Trụ sở: H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D. Chủ tịch Hội đồng quản trị

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc H, ông Trần Văn T, ông Phạm Văn T1. Văn bản ủy quyền số 67/2023/UQ-VPB ngày 09/01/2023

(có mặt)

- Bị đơn: Bà Lê Thị T2, sinh năm 1953

Thường trú: A Đ, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh

(vắng mặt không có lý do)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần N

Trụ sở: Tổ 1, ấp Ô, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang

Đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Hải C. Tổng Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Đặng Hạnh T3. Giấy ủy quyền số 0304/2024/GUQ-NSCD ngày 03/4/2024

(có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Quốc H trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (sau đây gọi là Ngân hàng) và bà Lê Thị T2 ký kết hợp đồng cho vay số LN1912262038269 ngày 08/01/2020. Nội dung hợp đồng Ngân hàng Thương mại Cổ phần V cho bà T2 vay số tiền 2.478.934.409 đồng, mục đích vay mua căn condotel mã M8A18 thuộc Dự án Movenpick P tại Khu D, xã C và xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, thời hạn vay 96 tháng, lãi suất cho vay được quy định cụ thể trong các Khế ước nhận nợ và lãi suất sẽ được điều chỉnh theo từng thời kỳ; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay.

Theo Khế ước nhận nợ lần 01 số LN1912262038269 ngày 20/01/2020, bà T2 đã nhận nợ số tiền vay 2.267.277.977 đồng, thời hạn vay 96 tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất cho vay 9%/năm, lãi suất sẽ được điều chỉnh. Bà T2 được ân hạn trả nợ gốc trong 18 tháng đầu. Sau đó bà T2 sẽ trả nợ gốc định kỳ vào ngày 25 hàng tháng với số tiền 29.068.000 đồng, trả lãi vào ngày 25 hàng tháng.

Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, bà T2 đã thế chấp tất cả các quyền tài sản thuộc sở hữu của bà T2 phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ nghỉ dưỡng số M8A18/HĐMB/NSCD-MVP ngày 30/12/2019 giữa bà T2 và Công ty Cổ phần N, bao gồm tất cả các Phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng đối với Căn hộ nghỉ dưỡng số M8A18 thuộc Dự án khu du lịch sinh thái Ngôi sao – L thuộc Khu D tại xã C và xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang do Công ty Trách nhiệm hữu hạn N1 (nay là Công ty Cổ phần N) là chủ đầu tư. Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số LN1912262038269 ngày 08/01/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/01/2020.

Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay theo thỏa thuận. Công ty Cổ phần N đã thanh toán thay cho bà T2 một phần nợ gốc và nợ lãi cho bà T2 theo thỏa thuận giữa các bên. Do bà T2 không tiếp tục thanh toán nên ngày 26/10/2021 Ngân hàng chuyển khoản nợ vay thành nợ quá hạn. Sau khi khoản nợ được chuyển quá hạn, Công ty Cổ phần N có thanh toán trễ hạn cho đến ngày 29/3/2024 và Ngân hàng đã ưu tiên cấn trừ số tiền này vào nợ gốc.

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Thanh thanh T4 số tiền nợ 3.267.773.445 đồng (Ba tỷ hai trăm sáu mươi bảy triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi lăm đồng),

trong đó nợ gốc 2.003.963.116 đồng, nợ lãi quá hạn 1.263.810.329 đồng tạm tính đến ngày 10/7/2024.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại hợp đồng cho vay số LN1912262038269 ngày 08/01/2020.

Sau khi bà Thanh thanh T4 xong nợ, Ngân hàng trả lại bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp gồm: Hợp đồng mua bán căn hộ nghỉ dưỡng số M8A18/HĐMB/NSCD-MVP ngày 30/12/2019 giữa bà T2 và Công ty Cổ phần N, các biên lai thanh toán tiền.

Trường hợp bà T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì bà T2 còn phải tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.

* Bị đơn: Bà Lê Thị T2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ triệu tập để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng bà T2 vắng mặt không có lý do.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đại diện theo ủy quyền trình bày tại bản tự khai như sau:

Công ty Cổ phần N là Chủ đầu tư Dự án Khu D - L, có tên thương mại là “Movenpick Resort Waverly P", thuộc Khu D tại xã C và xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Ngày 30/12/2019, Công ty Cổ phần N và bà Lê Thị T2 đã ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ nghỉ dưỡng số M8A18 /HĐMB/NSCD – MVP đối với Căn hộ ký hiệu M8A18.

Cho đến thời điểm hiện tại, bà Lê Thị T2 đã thanh toán 3.329.678.438 đồng thông qua chuyển khoản ngân hàng, vào tài khoản số [...] của Công ty Cổ phần N mở tại Ngân hàng.

Công ty cổ phần N đã, đang thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo bộ Hợp đồng mua bán căn hộ nghỉ dưỡng số M8A18 /HĐMB/NSCD – MVP với bà Lê Thị T2 và các Bên liên quan theo các văn bản/tài liệu đã ký kết, phù hợp với quy định của pháp luật. Công ty đã trả thay một phần tiền lãi phát sinh cho bà T2 theo trình bày của Ngân hàng.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đồng thời các đương sự không bổ sung chứng cứ nào khác.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong vụ án: Các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73, Điều 85, Điều 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Sau khi xem xét tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ xét thấy có cơ sở bà T2 còn nợ Ngân hàng số tiền 3.267.773.445 đồng (Ba tỷ hai trăm sáu mươi bảy triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc 2.003.963.116 đồng, nợ lãi quá hạn 1.263.810.329 đồng tạm tính đến ngày 10/7/2024. Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Bị đơn là bà T2 có địa chỉ thường trú tại A Đ, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Theo kết quả xác minh của Công an P, quận P, bà Lê Thị T2 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại A Đ, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng thực tế bà T2 không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ.

Căn cứ Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án đã tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để triệu tập bà T2 lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất ngày 19/6/2024, phiên tòa sơ thẩm hôm nay nhưng bà T2 vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án.

Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng quyết định xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Về nội dung:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay, bà T2 không có mặt để trình bày lời khai và cung cấp tài liệu, chứng cứ mặc dù Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.

[3.1] Xét hợp đồng cho vay số LN1912262038269 ngày 08/01/2020 được ký kết giữa đại diện hợp pháp của Ngân hàng và bà T2 phù hợp với quy định của điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng, Điều 23 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 nên có hiệu lực.

Tại Khế ước nhận nợ lần 01 số LN1912262038269 ngày 20/01/2020 bà T2 đã nhận nợ vay số tiền 2.267.277.977 đồng.

Ngày 10/01/2020 Ngân hàng TMCP V, Công ty Cổ phần N và bà Lê Thị Thanh C1 ký Thỏa thuận trả thay lãi vay. Theo đó Công ty Cổ phần N sẽ hỗ trợ đóng khoản lãi trong hạn phát sinh từ khoản vay với số tiền 2.267.277.978 đồng, mức lãi suất 9%/năm trong 18 tháng kể từ ngày giải ngân.

Thực tế Công ty Cổ phần N đã thanh toán số tiền lãi phát sinh trong 18 tháng kể từ ngày giải ngân. Ngân hàng đã cấn trừ số tiền này vào tiền lãi trong hạn. Sau đó, bà T2 đã thanh toán tiền lãi phát sinh đến 25/9/2021, nhưng không đầy đủ. Kể từ ngày 26/9/2021 bà T2 không tiếp tục thanh toán nữa. Sau khi khoản nợ được chuyển quá hạn, Công ty Cổ phần N có thanh toán trễ hạn cho đến ngày 29/3/2024 và Ngân hàng đã ưu tiên cấn trừ số tiền này vào nợ gốc.

Theo khoản 8 Điều 2 của Hợp đồng cho vay và Điều 5 của bản Điều kiện giao dịch chung về cho vay, bà T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn. Ngân hàng chuyển nợ số nợ gốc là 2.003.963.116 đồng thành nợ quá hạn kể từ ngày 26/10/2021 và tính lãi quá hạn là phù hợp quy định Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng, Điều 20, Điều 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2.

Theo khoản 7 Điều 2 của Hợp đồng cho vay và khoản 6 Điều 1 của Khế ước nhận nợ lần 01 lãi suất cho vay 9%/năm, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh từng thời kỳ. Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 việc thỏa thuận lãi suất này phù hợp với quy định pháp luật.

Ngân hàng điều chỉnh lãi suất cho vay theo các Quyết định số 749/2020/QĐ-P.TGĐ ngày 26/10/2020, số 255/2022/QĐ-GĐK ngày 19/4/2022, số 714/2022/QĐ-GĐK ngày 23/9/2022, số 1062/2022/QĐ-GĐK ngày 12/12/2022, số 529/2023/QĐ-GĐK ngày 07/6/2023; số 64/2023/GGA-TGĐ ngày 25/9/2023, số 66/2024/BGA-TGĐ ngày 26/3/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 8 và điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về số nợ là 3.267.773.445 đồng (Ba tỷ hai trăm sáu mươi bảy triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi lăm đồng),

trong đó nợ gốc 2.003.963.116 đồng, nợ lãi quá hạn 1.263.810.329 đồng tạm tính đến ngày 10/7/2024.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại hợp đồng cho vay số LN1912262038269 ngày 08/01/2020.

[3.2] Xét Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số LN1912262038269 ngày 08/01/2020 được ký kết giữa đại diện hợp pháp của Ngân hàng và bà T2. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/01/2020.

Ngày 30/12/2019 bà Lê Thị T2 và Công ty Cổ phần N ký kết hợp đồng mua bán căn hộ nghỉ dưỡng số M8A18/HĐMB/NSCD-MVP đối với Căn hộ N thuộc Dự án khu du lịch sinh thái Ngôi sao – L thuộc Khu D tại xã C và xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang do Công ty Trách nhiệm hữu hạn N1 (nay là Công ty Cổ phần N) là chủ đầu tư.

Ngày 28/3/2020, Công ty Cổ phần N bàn giao căn hộ này cho bà Lê Thị T2.

Theo Công văn số 329/VPĐK-DLTTLT ngày 24/8/2023 của Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh K, Công ty Cổ phần N chưa được cấp quyền sở hữu đối với căn hộ nghỉ dưỡng nêu trên.

Và Công văn số 468/BQLKKTPQ-ĐT&DN ngày 04/4/2024, tại thời điểm ngày 30/12/2019 cho đến hiện nay Công ty Cổ phần N là Chủ đầu tư Dự án Khu D - L. Dự án đã được Ban Q và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, phê duyệt Đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500, ban hành Quyết định cho thuê đất, thẩm định thiết kế xây dựng, cấp giấy phép xây dựng hạ tầng kỹ thuật, công trình dân dụng, thông báo kết quả kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng.

Cũng theo công văn này, nhà đầu tư đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, đã thi công xây dựng hoàn thành đưa vào vận hành giai đoạn 1 của dự án gồm các công trình khối khách sạn, căn hộ nghỉ dưỡng, khu biệt thự nghỉ dưỡng, công trình giặt, nhà ở nhân viên, hạ tầng kỹ thuật...

Xét thấy Hợp đồng mua bán căn hộ phù hợp quy định tại Điều 430 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 11, Điều 14, Điều 17, Điều 18 của Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2014, khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai; Điều 48, Điều 49 của Luật Du lịch năm 2017.

Việc thế chấp đã đúng quy định tại các Điều 115, Điều 317, Điều 318 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 175, điểm đ khoản 2 Điều 179 và khoản 1 Điều 189 Luật Đất đai; Điều 4, Điều 9, Điều 10 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Điều 1 của Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ. Do đó hợp đồng thế chấp này có hiệu lực pháp luật.

Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm phù hợp với quy định tại Điều 9 của Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm; khoản 7 Điều 6 của Thông tư 08/2018/TT-BTP ngày 20/6/2018 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm tại các Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đ thuộc Bộ tư pháp.

Trường hợp bà T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, theo khoản 1 Điều 6 của Hợp đồng thế chấp, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là tất cả các quyền tài sản thuộc sở hữu của bà T2 phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ nghỉ dưỡng số M8A18/HĐMB/NSCD-MVP ngày 30/12/2019 giữa bà T2 và Công ty Cổ phần N, bao gồm tất cả các Phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng đối với Căn hộ nghỉ dưỡng số M8A18 thuộc Dự án khu du lịch sinh thái Ngôi sao – L thuộc Khu D tại xã C và xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang do Công ty Trách nhiệm hữu hạn N1 (nay là Công ty Cổ phần N) là chủ đầu tư.

Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì bà T2 còn phải tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.

Sau khi bà Thanh thanh T4 xong nợ, Ngân hàng trả lại cho bà T2 bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp gồm: Hợp đồng mua bán căn hộ nghỉ dưỡng số M8A18/HĐMB/NSCD-MVP ngày 30/12/2019 giữa bà T2 và Công ty Cổ phần N, các biên lai thanh toán tiền.

Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện này.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Căn cứ khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bà T2 chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp nêu trên là 30.000.000 đồng.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Trong hồ sơ vụ án, bà T2 không có đơn xin miễn án phí. Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 97.355.469 đồng.

Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí là 44.854.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0030084 ngày 13/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 157, Điều 180, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 115, Điều 317, Điều 318, Điều 430 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Điều 11, Điều 14, Điều 17, Điều 18 của Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2014;

- Căn cứ khoản 3 Điều 167, điểm c khoản 1 Điều 175, điểm đ khoản 2 Điều 179 và khoản 1 Điều 189 của Luật Đất đai;

- Căn cứ Điều 48, Điều 49 của Luật Du lịch 2017;

- Căn cứ Điều 4, Điều 9, Điều 10, Điều 12 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Điều 1 của Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ.

- Căn cứ Điều 9 của Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm;

- Căn cứ khoản 7 Điều 6 của Thông tư 08/2018/TT-BTP ngày 20/6/2018 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm tại các Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đ thuộc Bộ tư pháp;

- Căn cứ Điều 13, Điều 20, Điều 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2;

- Căn cứ khoản 1 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014),

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Bà Lê Thị T2 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền là 3.267.773.445 đồng (Ba tỷ hai trăm sáu mươi bảy triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc 2.003.963.116 đồng, nợ lãi quá hạn 1.263.810.329 đồng tạm tính đến ngày 10/7/2024 phát sinh từ hợp đồng cho vay số LN1912262038269 ngày 08/01/2020.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại hợp đồng cho vay số LN1912262038269 ngày 08/01/2020.

Sau khi bà Thanh thanh T4 xong nợ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V trả lại cho bà T2 bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp gồm: Hợp đồng mua bán căn hộ nghỉ dưỡng số M8A18/HĐMB/NSCD-MVP ngày 30/12/2019 giữa bà T2 và Công ty Cổ phần N, các biên lai thanh toán tiền.

Trường hợp bà Lê Thị Thanh K thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có quyền yêu cầu Cơ quan có thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là tất cả các quyền tài sản thuộc sở hữu của bà T2 phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ nghỉ dưỡng số M8A18/HĐMB/NSCD-MVP ngày 30/12/2019 giữa bà T2 và Công ty Cổ phần N, bao gồm tất cả các Phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng đối với Căn hộ nghỉ dưỡng số M8A18 thuộc Dự án khu du lịch sinh thái Ngôi sao – L thuộc Khu D tại xã C và xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang do Công ty Trách nhiệm hữu hạn N1 (nay là Công ty Cổ phần N) là chủ đầu tư.

Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì bà Lê Thị Thanh C2 phải tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.

2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Bà Lê Thị Thanh C3 chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp nêu trên là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị Thanh C3 án phí dân sự sơ thẩm là là 97.355.469 đồng (Chín mươi bảy triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn bốn trăm sáu mươi chin đồng).

Ngân hàng Thương mại Cổ phần V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí là 44.854.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0030084 ngày 13/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Lê Thị T2 và Công ty Cổ phần N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP HCM;
  • - VKSND TP HCM;
  • - VKSND Q.PN;
  • - Chi cục THA DS Q.PN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Thị Đăng Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 628/2024/DS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 628/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger