|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 626/2024/DS-PT
Ngày: 10/07/2024
Về việc: “Tranh chấp đòi tài sản,
tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương
Các thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Huyền
2. Bà Phạm Thị Kim
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Cao Hoàng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Thị Như Khương – Kiểm sát viên.
Ngày 10/07/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 466/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024, về việc: “Tranh chấp đòi tài sản, tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 157/2024/DS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3164/2024/QĐPT-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn:
- - Bà Lê Thị Ánh M, sinh năm 1958;
- - Ông Võ Trọng T, sinh năm 1990;
- Cùng địa chỉ: Số E Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Trần Nguyễn Phương L, sinh năm 1993;
- Địa chỉ: Số E Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Võ Thành C, sinh năm 1957;
- Địa chỉ: Số E Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M.
(Phiên tòa có mặt: Bà Lê Thị Ánh M, ông Võ Trọng T, bà Trần Nguyễn Phương L; Vắng mặt: Ông Võ Thành C)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn thứ nhất – bà Lê Thị Ánh M trình bày:
Ngày 13/01/2019, bà M tổ chức đám cưới cho con trai là ông Võ Trọng T với con dâu là bà Trần Nguyễn Phương L. Trong lễ cưới bà M có cho bà L mượn vàng để đeo gồm:
- - 01 chiếc lắc (Lắc 2 hàng lá tròn) vàng 980, cân nặng 3,66 chỉ;
- - 01 dây chuyền (Dây mè cà na) vàng 980, cân nặng 2,03 chỉ;
- - 01 mặt dây chuyền (Mặt trái tim Phước cát) vàng 980, cân nặng 1,0 chỉ;
- - 01 cặp nhẫn cưới vàng 18k, cân nặng 1,34 chỉ;
- - 01 cặp bông cưới (k khoa*chau+trang) vàng 18k, cân nặng 0,72 chỉ;
- Tổng cộng là 8,75 chỉ vàng.
Nay bà L đã ly hôn với ông T, không còn quan hệ gì với gia đình bà M, nên bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà L phải trả lại toàn bộ số vàng trên cho bà M. Số vàng này là tài sản riêng của bà M, không liên quan đến chồng bà M là ông Võ Thành C. Bà M yêu cầu trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
* Nguyên đơn thứ hai - ông Võ Trọng T trình bày:
Ngày 13/01/2019, ông T cho bà L mượn số tiền 80.000.000 đồng để hỗ trợ phụ đãi tiệc cưới tại Nhà hàng H. Tuy nhiên, sau khi đãi tiệc, ông T có yêu cầu trả lại số tiền này nhưng bà L không trả. Gia đình ông T đã trực tiếp sang nhà bà L để đòi lại tài sản nhưng bà L không trả, còn kéo cả dòng họ ra chửi. Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà L phải trả lại số tiền là 80.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 13/01/2019 đến hết năm 2023 với lãi suất theo tiền gửi của ngân hàng, tổng cộng gốc và lãi là 116.437.294 đồng. Từ ngày 01/01/2024 trở đi ông T không yêu cầu tính lãi.
Nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M và ông Võ Trọng T cùng yêu cầu bị đơn bà Trần Nguyễn Phương L phải bồi thường danh dự nhân phẩm do trong thời gian đòi tài sản đã bị xúc phạm nhưng sau đó bà Lê Thị Ánh M và ông Võ Trọng T rút lại yêu cầu này.
* Bị đơn bà Trần Nguyễn Phương L trình bày:
Bà L quen ông T và quyết định đi đến hôn nhân. Khi tổ chức đám cưới hai gia đình cùng đãi chung một tiệc, mỗi bên gia đình 20 bàn. Khi thanh toán tiền cho nhà hàng, ông T đã tự thanh toán luôn phần của bà L. Sau khi xong tiệc cưới, bà L đã lấy tiền mừng để đưa lại cho ông T, nhưng ông T không lấy và nói cho bà L luôn để bà L giữ lại khi có con lo cho con. Số tiền này bà đã dùng vào việc khám thai, uống thuốc dưỡng thai, tiền sinh mổ 25.000.000 đồng, mua gói chích ngừa cho con 20.000.000 đồng (có hóa đơn) số tiền còn lại để mua sữa, đồ dùng phục vụ cho con.
Bà L và ông T sống chung tại nhà cha mẹ bà L được khoảng 2 năm, trong thời gian sống chung nảy sinh mâu thuẫn, nên ông T không ở nhà bà L nữa. Cha mẹ ông T đúng ngày mùng 8 tết qua nhà bà L đòi lại đồ đạc mà ông T đã tặng bà L. Sau đó ít ngày ông T cùng ba của ông T qua nhà bà L chửi bới, đòi lại số tiền 80.000.000 đồng lúc làm tiệc cưới. Nay ông T cho rằng số tiền 80.000.000 đồng là ông T cho bà L mượn, yêu cầu bà L phải trả số tiền 80.000.000 đồng và tiền lãi là không đúng sự thật. Bà L khẳng định không hề vay mượn gì của ông T nên không đồng ý với toàn bộ yêu cầu của ông T.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà M đòi vàng cưới là sính lễ khi làm đám cưới tại nhà bà L, đây là quà cưới gia đình nhà trai cho cô dâu trong ngày cưới nay bà M lại đòi lại là thật vô lý, nên bà không đồng ý trả lại.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Thành C trình bày:
Việc đòi lại vàng và tiền của vợ và con ông C không liên quan gì đến ông C. Đồng thời ông C yêu cầu được vắng mặt.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 157/2014/DS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M và ông Võ Trọng T về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Nguyễn Phương L phải bồi thường danh dự, nhân phẩm do bị xúc phạm.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Nguyễn Phương L phải trả lại toàn bộ số vàng mà bà M đã trao cho bà L trong ngày tổ chức lễ cưới.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Trọng T về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Nguyễn Phương L phải trả lại tiền mà ông T đã trả trong tiệc cưới cộng tiền lãi là 116.437.294 đồng.
Bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo, thi hành án.
* Ngày 06/5/2024 nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M nộp đơn kháng cáo. Bà M kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 157/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì không căn cứ vào thực tế để xét xử vụ án hoặc phải buộc bị đơn phải trả lại toàn bộ số vàng thuộc sở hữu của bà M.
Nguyên đơn ông Võ Trọng T trình bày: Ông T không có kháng cáo bản án sơ thẩm nhưng ông T đề nghị bị đơn trả lại số vàng trên cho bà M.
Bị đơn bà Trần Nguyễn Phương L trình bày: Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của đương sự làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Tòa án chấp nhận. Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các bên tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 157/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vào ngày 22/04/2024, đến ngày 06/05/2024 nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M nộp đơn kháng cáo. Bà M đã nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định và thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên được chấp nhận.
[1.2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp dân sự về đòi tài sản, tranh chấp hợp đồng vay tài sản; bị đơn có nơi cư ngụ tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm. Do có kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M nên căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[1.3] Về xét xử công khai và sự vắng mặt của các đương sự:
Bà M đề nghị xét xử vụ án công khai trước sự chứng kiến của toàn thể nhân dân, tập thể cán bộ công chức, các ban nghành cả nước cùng các cơ quan an ninh, công an, quận đội. Hội đồng xét xử xét thấy, những người mà bà M yêu cầu chứng kiến không phải là đương sự của vụ kiện theo qui định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự nên yêu cầu của bà M là không có cơ sở. Tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm vụ án dân sự đã được xét xử công khai theo qui định tại khoản 2 Điều 15 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Thành C có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử vụ án theo qui định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung kháng cáo: Bà Lê Thị Ánh M kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì cấp sơ thẩm đã không căn cứ vào thực tế để xét xử vụ án buộc bà L phải trả lại số vàng mà bà M đã đưa cho bà L.
[2.1] Bà Lê Thị Ánh M khởi kiện yêu cầu bà Trần Nguyễn Phương L trả cho bà M số vàng cưới gồm: 01 chiếc lắc (Lắc 2 hàng lá tròn) vàng 980, cân nặng 3,66 chỉ; 01 dây chuyền (Dây mè cà na) vàng 980, cân nặng 2,03 chỉ; 01 mặt dây chuyền (Mặt trái tim Phước cát) vàng 980, cân nặng 1,0 chỉ; 01 cặp nhẫn cưới vàng 18k, cân nặng 1,34 chỉ; 01 cặp bông cưới (k khoa*chau+trang) vàng 18k, cân nặng 0,72 chỉ; Tổng cộng là 8,75 chỉ vàng. Số vàng này của M cho bà L mượn đeo trong ngày cưới.
Xét, bà M thừa nhận ngày 13/01/2019 bà L và ông Võ Trọng T tổ chức lễ cưới và trong ngày tổ chức lễ cưới bà M trao số vàng trên cho bà L. Khi trao số vàng trên cho bà L, bà M không có nói là cho bà L mượn hay bất cứ điều kiện, yêu cầu gì khác. Bà M không cung cấp được chứng cứ chứng minh thể hiện bà M cho bà L mượn số vàng trên và bà L không đồng ý với lời trình bày của bà M và cho rằng số vàng trên là sinh lễ nhà trai trao tặng con dâu (bà L) trong ngày cưới, không phải bà M cho bà L mượn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà M.
Mặt khác, theo truyền thống đám cưới của người Việt Nam, trong lễ hỏi hay ngày rước dâu, khi cô dâu và chú rể ra mắt hai họ và làm lễ, gia đình hai bên thường tặng vàng, trang sức, tiền... cho cô dâu hoặc chú rể hoặc cho cô dâu và chú rể. Việc tặng này hoàn toàn tự nguyện thể hiện tình cảm gia đình hai bên, phù hợp với phong tục tập quán của người Việt Nam, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm các điều cấm của luật, phù hợp với các Điều 3,4,5,7 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, việc bà M trao tặng vàng cho bà L nhân ngày cưới là phù hợp với truyền thống, tập quán đám cưới của người Việt Nam. Bên cạnh đó, việc bà M trao tặng vàng cho bà L nhân ngày cưới là một dạng của hợp đồng tặng cho tài sản theo Điều 457 và 458 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không có yêu cầu đền bù hay điều kiện khác, bên được tặng cho đồng ý nhận. Đối với việc tặng cho tài sản thì người tặng cho tài sản không còn quyền sở hữu đối với tài sản đó kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho người được tặng. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà M là phù hợp qui định pháp luật.
Bà Lê Thị Ánh M kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để chuyển vụ án dân sự trên sang vụ án hình sự để xét xử. Xét, yêu cầu này của bà M là không có cơ sở, không phù hợp với qui định pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Nguyên đơn ông Võ Trọng T không có kháng cáo bản án sơ thẩm, nên hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M và giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[2.5] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Các nguyên đơn phải chịu án phí trên số tiền yêu cầu không được chấp nhận là phù hợp Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bà Lê Thị Ánh M là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà M được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Lê Thị Ánh M là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo qui định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
- - Căn cứ Luật thi hành án dân sự;
- Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 157/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M và ông Võ Trọng T về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Nguyễn Phương L phải bồi thường danh dự, nhân phẩm do bị xúc phạm.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ánh M về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Nguyễn Phương L phải trả lại toàn bộ số vàng mà bà M đã trao cho bà L trong ngày tổ chức lễ cưới.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Trọng T về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Nguyễn Phương L phải trả lại tiền mà ông T đã trả trong tiệc cưới cộng tiền lãi là 116.437.294 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Ánh M được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị Ánh M được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Ông Võ Trọng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.821.865 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp là 2.910.932 đồng theo biên lai tạm nộp án phí số 0012832 ngày 15/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận Gò Vấp. Ông T phải nộp thêm tiền án phí sơ thẩm là 2.910.933 đồng.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Cương |
Bản án số 626/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản, tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 626/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản, tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản
