Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 626/2024/HS-PT

Ngày 02-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh
- Các Thẩm phán: Ông Đỗ Đình Thanh
Ông Đặng Văn Ý
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Nơi – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 157/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hữu H, do có kháng cáo của của bị cáo Nguyễn Hữu H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 207/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 635/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 7 năm 2024.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Hữu H, sinh năm 1964 tại Đồng Nai; Căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số D, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 10/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; vợ tên Trần Thị L và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07-11-2022; đến ngày 19-01-2023, được Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai hủy bỏ biện pháp tạm giam; bị cáo bị truy nã theo Quyết định truy nã số 23/QĐTN-VPCQCSĐT ngày 27-9-2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ; bị bắt tạm giam từ ngày 05/01/2024 cho đến nay; (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu H: Ông Trần Hữu N1 là Luật sư Văn phòng Luật sư Trần Hữu N1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu H theo chỉ định: Luật sư Nguyễn Hồng N2 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án này còn có các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hữu H không có khả năng xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây, gọi tắt là giấy chứng nhận), xin giấy phép xây dựng nhà ở theo yêu cầu của người khác, nhưng H đã cung cấp thông tin gian dối, cam kết sẽ làm được giấy tờ đất theo yêu cầu của bị hại, để họ tin tưởng giao tiền; sau đó, H chiếm đoạt, cụ thể như sau:

Vụ thứ Nhất:

- Ông Võ Xuân L1 là đồng chủ sử dụng thửa đất số 468, tờ bản đồ số 42, diện tích 3.507 m², tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận số CH 614502, do Ủy ban nhân dân (sau đây, viết tắt là UBND) huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 14/5/2018 cho bà Nguyễn Thị N3 (vợ ông Võ Xuân L1).

- Khoảng tháng 01/2020, ông L1 muốn xây dựng nhà xưởng tại thửa đất, để phục vụ sản xuất kinh doanh, do mục đích sử dụng thửa đất là đất trồng lúa, nên không xây dựng được. Ông L1 nhờ ông Bùi Bảo Q, liên hệ với người có khả năng làm giấy tờ đất (chuyển đổi mục đích sử dụng 500 m² diện tích thửa đất thành đất sản xuất kinh doanh và cấp lại giấy chứng nhận). Sau đó, ông Q giới thiệu H cho ông L1, thì ông L1 nhờ ông Q trực tiếp liên hệ với H để nhờ giúp làm giấy tờ đất. Mặc dù, H không có khả năng làm giấy tờ đất theo yêu cầu của ông L1, nhưng H nói với ông Q là quen biết nhiều người làm ở Sở T1, Văn phòng Đ3 (sau đây, viết tắt là VPĐK) tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh B và Chi nhánh V; đồng thời, H cam kết sẽ làm được giấy tờ đất theo yêu cầu; chi phí làm giấy tờ đất là 500.000.000 đồng. Do tin tưởng lời H nói, nên ông L1 và ông Q nhờ H làm giấy tờ đất. H nói với ông Q và ông L1 phải đưa trước chi phí đóng thuế chuyển đổi mục đích sử dụng đất, với số tiền 320.000.000 đồng.

- Ngày 13/01/2020, tại khu vực vòng xoay T, thành phố B, ông L1 nhờ ông Q đưa cho H số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, H đưa cho ông Q 10.000.000 đồng vì đã giới thiệu ông L1 làm giấy tờ đất chỗ H.

- Ngày 20/8/2020, tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N5 (Ngân hàng V1) Đồng Nai - Phòng G, thành phố B, ông L1 nhờ ông Q chuyển khoản cho H số tiền 120.000.000 đồng. H đưa cho ông Q một Hợp đồng giao dịch dân sự (đánh máy) đề ngày 20/8/2020, thể hiện nội dung: H đã nhận của chị Nguyễn Thị N3 (đứng tên chủ đất) số tiền 320.000.000 đồng; ngày 08/9/2020, giao giấy thuế; ngày 09/9/2020, nộp giấy chính; ngày 14/9/2020, ra Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất đứng tên chị N3.

- Sau khi nhận tiền của ông L1, H sử dụng trả nợ và tiêu xài hết. Khi bị ông L1 và ông Q liên lạc, hối thúc làm giấy tờ đất thì H đã đặt một người (không rõ nhân thân, lai lịch) làm 02 tài liệu giả là Bản vẽ phác thảo phương án dự kiến chuyển mục đích (có xác nhận chữ ký của ông Đặng Minh Đ1, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T1 ngày 26/8/2020); Trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính khu đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ4 thực hiện ngày 09/9/2020; H tự viết tay vào Hợp đồng giao dịch dân sự (giấy giao nhận tiền), thể hiện H giao tiền cho Phạm Minh C (nhân viên VPĐK - Chi nhánh V) đóng thuế, rồi chụp hình gửi qua tin nhắn Zalo cho ông Q. Sau khi biết bị lừa đảo, nên ông L1 và ông Q đã làm đơn tố cáo H.

Vụ thứ Hai:

- Ông Võ Thành N4 là chủ sử dụng thửa đất số 134, tờ số 8, tại phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận số CN 172589 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T1 cấp ngày 15/5/2018 (ngày 02/7/2018, ông N4 nhận chuyển nhượng lại của ông Nguyễn Hữu C1 ngụ tại phường H, thành phố B).

- Ông Võ Thành N4 muốn xây nhà trọ, nhưng do thửa đất là loại đất trồng cây lâu năm, nên không xây dựng được. Ông N4 đã nhờ ông Nguyễn Bá Đ2 tìm người giúp xin phép cho ông N4 xây dựng nhà. Ông Đ2 đã liên hệ và được ông Nguyễn Anh T (chưa rõ lai lịch) đưa đến gặp H, để nhờ xin phép xây dựng cho ông N4. Khi gặp, H cam kết xin phép xây dựng được cho ông N4, nên ông Đ2 và ông T đã đưa ông N4 đến gặp, nhờ H xin phép xây dựng.

- Mặc dù, H biết đất của ông N4 không được phép xây dựng, không có khả năng xin cấp phép cũng như liên hệ được với người có thể giúp ông N4 xây dựng, nhưng H vẫn nói dối với ông N4 là quen biết nhiều cán bộ Đội Quản lý đô thị, UBND phường B; đồng thời, cam kết xin được giấy phép xây dựng 03 căn nhà trên thửa đất của ông N4, với chi phí 100.000.000 đồng/căn và tiền công thù lao của H là 20.000.000 đồng. Do tin tưởng lời H nói, nên ông N4 đồng ý nhờ H xin phép xây dựng.

- Ngày 08/02/2020, tại khu vực phường H, thành phố B, H nhận của ông N4 số tiền 150.000.000 đồng (có ông Đ2 và ông T chứng kiến). Khi H nhận tiền, ông Đ2 viết tay một Hợp đồng cam kết xây dựng cho H và ông N4 ký tên, hợp đồng thể hiện nội dung H đã nhận số tiền 150.000.000 đồng của ông N4 và cam kết thống nhất về việc xin giấy phép xây dựng nhà ở trên vị trí thửa đất nêu trên. Sau đó, H đưa cho ông Đ2 và ông T mỗi người 25.000.000 đồng vì đã giới thiệu ông N4 đến làm giấy tờ đất chỗ H.

- Ngày 14/02/2020, tại khu vực phường B, thành phố B, H nhận tiếp của ông N4 số tiền 170.000.000 đồng (có ông Đ2 chứng kiến). Tại bản Hợp đồng cũ do ông Đ2 viết tay vào ngày 08/02/2020, ông Đ2 lật ra mặt sau của tờ giấy, viết tiếp với nội dung H nhận của ông N4 số tiền 170.000.000 đồng, để xin xây dựng 03 căn nhà; sau đó, H, ông N4 ký tên và ông Đ2 ký tên người làm chứng. Sau khi nhận tiền, H đưa cho ông Đ2 25.000.000 đồng là tiền hoa hồng.

- Ngày 08/3/2020, ông N4 gặp H bàn bạc về việc khi nào ông N4 có thể xây nhà được; H cam kết ngày 10/3/2020, sẽ xây nhà được. Ông N4 lấy một cuốn sổ tay (sổ tay đảng viên màu đỏ) lật phần cuối của cuốn sổ rồi viết tay một “tờ cam kết” về việc xây được nhà và tiến hành xây dựng vào ngày 10/3/2020 cho H ký tên.

- Sau khi nhận tiền của ông N4, H sử dụng trả nợ và tiêu xài hết. Khi ông N4 xây nhà thì Tổ Công tác của UBND phường B phát hiện và đã nhiều lần lập biên bản vi phạm, thu giữ số máy móc xây dựng. Ông N4 liên lạc với H thì H đưa ra nhiều lý do chưa thể xây dựng được. Biết bị H lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ông N4 đã làm đơn tố cáo.

Vật chứng:

  • - 01 Hợp đồng giao dịch dân sự, đứng tên Nguyễn Hữu H, đề ngày 20/8/2020.
  • - 01 Hợp đồng cam kết xây dựng, giữa Võ Thành N4 và Nguyễn Hữu H, đề ngày 08/02/2020.
  • - 01 Giấy cam kết, đứng tên Nguyễn Hữu H, đề ngày 05/10/2020.
  • - 01 cuốn Sổ tay Đảng viên, phía cuối có nội dung Tờ cam kết, giữa Nguyễn Hữu H và anh Võ Thành N4, đề ngày 08/3/2020.
  • - 01 giấy viết tay có các nội dung: “hôm nay 08/02/2020 tôi và anh T có của anh H 50.000.000 (năm mươi triệu đồng)”, “hôm nay 14/2/2020 Tôi tên Nguyễn Bá Đ2 có nhận anh H số tiền 25.000.000 đồng”.

Tại Kết luận giám định số: 1814/KL-KTHS ngày 30/9/2022 của Phòng K - Công an tỉnh Đ (bút lục số 68 và 69), kết luận:

- Chữ viết và chữ ký mang tên Nguyễn Hữu H trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (Hợp đồng giao dịch dân sự, đứng tên Nguyễn Hữu H, đề ngày 20/8/2020; Hợp đồng cam kết xây dựng, giữa Võ Thành N4 và Nguyễn Hữu H, đề ngày 08/02/2020; Giấy cam kết, đứng tên Nguyễn Hữu H, đề ngày 05/10/2020; cuốn Sổ tay Đảng viên, phía cuối có nội dung Tờ cam kết, giữa Nguyễn Hữu H và anh Võ Thành N4, đề ngày 08/3/2020) so với chữ ký mang tên và chữ viết mang tên Nguyễn Hữu H trên các tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh do cùng một người ký và viêt ra.

- Điểm chỉ vân tay mang tên Nguyễn Hữu H trên tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (Hợp đồng giao dịch dân sự, đứng tên Nguyễn Hữu H, đề ngày 20/8/2020) so với điểm chỉ vân tay ngón trỏ trái và ngón trỏ phải trên tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (của Nguyễn Hữu H) là điểm chỉ vân tay do cùng một người in ra.

Về dân sự:

- Nguyễn Hữu H và gia đình đã bồi thường cho bị hại Võ Xuân L1 số tiền 310.000.000 đồng; ông Bùi Bảo Q đã trả lại cho ông L1 số tiền 10.000.000 đồng. Ông L1 không yêu cầu bồi thường và viết đơn bãi nại (bút lục 150-152).

- Nguyễn Hữu H và gia đình đã bồi thường cho bị hại Võ Thành N4 số tiền 90.000.000 đồng; anh Nguyễn Bá Đ2 đã trả lại cho ông N4 số tiền 50.000.000 đồng. Ông N4 yêu cầu Nguyễn Hữu H phải bồi thường số tiền 180.000.000 đồng và viết đơn bãi nại (bút lục 160-162).

Nội dung khác có liên quan:

Đối với hành vi Nguyễn Hữu H đặt làm 02 tài liệu giả nêu trên (Bản vẽ phác thảo phương án dự kiến chuyển mục đích ngày 26/8/2020; Trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính thửa). Sau khi chiếm đoạt tiền của ông Võ Xuân L1, H bị ông L1 và ông Bùi Bảo Q hối thúc về tiến độ làm giấy tờ đất, để tránh việc ông L1 và ông Q nghi ngờ, H đã đặt làm 02 tài liệu giả rồi chụp hình gửi qua tin nhắn Zalo cho ông Q. Xét thấy, tại thời điểm H nhận tiền của ông L1 lần thứ 2 vào ngày 20/8/2020 thì tội phạm đã hoàn thành; việc H sử dụng tài liệu giả xảy ra sau khi đã chiếm đoạt tiền của ông L1, không sử dụng vào việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Mặc khác, những giấy tờ trên sau khi phạm tội H đã vứt mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được; do đó, hành vi này của H không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Đối với đối tượng mà Nguyễn Hữu H đặt làm giấy tờ giả, do không rõ nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Bá Đ2 và Nguyễn Anh T (chưa rõ lai lịch) là người đưa ông Võ Thành N4 đến gặp Nguyễn Hữu H nhờ làm giấy tờ nhà đất. Khi nhận tiền của ông N4, H đã cho ông Đ2 50.000.000 đồng và ông T 25.000.000 đồng vì đã giới thiệu ông N4 cho H. Sau khi sự việc xảy ra, ông Đ2 đã trả lại tiền cho ông N4. Xét thấy, việc H đưa ra thông tin gian dối về việc có khả năng xin phép xây dựng được cho ông N4 thì ông Đ2 và ông T không biết; H và ông Đ2 và ông T không bàn bạc về việc lừa đảo, để chiếm đoạt tiền của ông N4; do đó, hành vi của ông Đ2 và ông T không cấu thành tội phạm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 207/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:

1. Tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Nguyễn Hữu H vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù; được trừ đi thời gian đã bị tạm giam, từ ngày 07-11-2022 đến ngày 19-01-2023.

Công an tỉnh Đ tiếp tục tổ chức xác minh, truy bắt Nguyễn Hữu H để chấp hành án, theo Quyết định truy nã số: 23/QĐTN-VPCQCSĐT ngày 27-9-2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ.

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử về trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/01/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai nhận được đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là không oan, hiện gia cảnh bị cáo rất khó khăn, mẹ già bệnh tật và 02 em bị liệt trước đó do bị cáo chăm sóc nay có 01 em vừa qua đời, đều thuộc đối tượng hưởng trợ cấp xã hội, hiện nay bị cáo nộp thêm 20.000.000đồng để khắc phục hậu quả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Bị cáo H hai lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tổng số tiền 640.000.000đồng, quá trình sơ thẩm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả 460.000.000đồng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm các tình tiết giảm nhẹ mới nộp tiền bồi thường thêm cho bị hại 20.000.000đồng, gia cảnh khó khăn,... nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo xử phạt bị cáo từ 10-12 năm tù.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất tội danh đối với bị cáo, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nộp tiền bồi thường thêm cho bị hại 20.000.000đồng, gia cảnh bị cáo rất khó khăn, bản thân là lao động chính chăm sóc mẹ già, là đối tượng hưởng chính sách hỗ trợ xã hội, có hai em bị liệt đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu H được thực hiện trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận và xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Hữu H khai nhận toàn bộ hành vi, sự việc phạm tội như bản cáo trạng, bản án sơ thẩm nêu. Cụ thể: Nguyễn Hữu H không có khả năng xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xin giấy phép xây dựng nhà ở theo yêu cầu của người khác, nhưng H đã cung cấp thông tin gian dối, cam kết sẽ làm được giấy tờ đất theo yêu cầu của bị hại, để họ tin tưởng giao tiền; sau đó, H chiếm đoạt. Cụ thể: ngày 13/01/2020 và ngày 20/8/2020, bị cáo Nguyễn Hữu H đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 320.000.000 đồng của bị hại Võ Xuân L1. Ngày 08/02/2022 và 14/02/2022, bị cáo Nguyễn Hữu H đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 320.000.000 đồng của bị hại Võ Thành N4. Tổng số tiền bị cáo H đã chiếm đoạt của 02 bị hại là 640.000.000 đồng; bị cáo H đã khắc phục và trả lại cho bị hại được 460.000.000 đồng, tại cấp phúc thẩm đã nộp bồi thường thêm 20.000.000đồng.

[2.2] Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu H là rất nguy hiểm cho xã hội, đã dùng các thủ đoạn gian dối trong việc có khả năng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xin phép xây dựng nhà ở để chiếm đoạt tổng số tiền 640.000.000đ của hai người bị hại, xâm phạm trực tiếp đến quyền quyền sở hữu hợp pháp của họ và gây bất bình trong xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên cấp sơ thẩm truy tố, xét xử, quy kết bị cáo H về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2.3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu H nhận thấy:

Bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội theo khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự có mức hình phạt tù “từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân”, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, quá trình tại ngoại bị cáo bỏ trốn, bị xét xử vắng mặt và đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 460.000.000đ, các bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt là 13 năm tù. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt do hoàn gia đình rất khó khăn, có mẹ già yếu và 02 em bị liệt nằm một chỗ, bản thân bị cáo là lao động chính, sau khi phạm tội bị cáo ăn năn hối cải đã cố gắng khắc phục hậu quả thiệt hại được 460.000.000đồng tại cấp phúc thẩm nộp thêm 20.000.000đồng để bồi thường thêm cho bị hại, đã khắc phục hơn 70% thiệt hại, bị cáo có thêm tình tiết mới và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 nên đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, do đó chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, xét hành vi phạm tội của bị cáo H thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt, trong thời gian tại ngoại chờ xét xử đã bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã sau khi xét xử sơ thẩm nên cũng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và giáo dục, cải tạo bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.

[3] Với các nhận định trên là cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu H và quan điểm của người bào chữa cho bị cáo, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo H.

[4] Các nội dung khác trong quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu H, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 207/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, cụ thể tuyên:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H: 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024; được trừ đi thời gian đã bị tạm giam, từ ngày 07-11-2022 đến ngày 19-01-2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo theo quyết định của Hội đồng xét xử để đảm bảo việc thi hành án.

2/ Tiếp tục tạm giữ số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) do gia đình bị cáo Nguyễn Hữu H giao nộp theo Biên lai thu số 0000806 ngày 04/7/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai để đảm bảo thi hành án phần trách nhiệm dân sự của bị cáo.

3/ Các nội dung khác trong quyết định Bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4/ Bị cáo Nguyễn Hữu H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai
  • (để tống đạt cho bị cáo);
  • - Lưu HSVA, VTLT (18b-TVN).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 626/2024/HS-PT ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 626/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger