|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 625/2023/HS-ST. Ngày 17 - 11 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Kim Sáng.
- Bà Nguyễn Thị Hồng Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 584/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 610/2023/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Mai Thành T, sinh năm 1998, tại An Giang (có mặt).
- Họ và tên: Vũ Khắc T1, sinh năm 1995, tại Nghệ An (có mặt).
- Ngày 27/3/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa xóa án tích).
- Ngày 08/3/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 (T2) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa xóa án tích – chưa trộm cắp được tài sản gì).
- Ngày 15/6/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 (T2) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa xóa án tích – Chưa trộm cắp được tài sản gì).
Hộ khẩu thường trú: Ấp L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Thành L, sinh năm: 1964 và bà Lê Thị L1, sinh năm: 1966; chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 25/4/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số: 738/LTG-HS ngày 04/5/2023, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
Hộ khẩu thường trú: Xóm T, xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An (trước đây là Xóm Cồng, xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An); nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Khắc D, sinh năm: 1962 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1964; chung sống như vợ chồng với chị Vũ Thị Thanh M, sinh năm 1997.
Tiền án:
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 25/4/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số: 739/LTG-HS ngày 04/5/2023, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị Diệp B, sinh năm 2000 (có mặt).
Trú tại: Số A, tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Thành T và Vũ Khắc T1 là bạn bè quen biết với nhau. Khoảng 04 giờ 10/4/2023, tại tiệm game bắn cá không số thuộc khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, T rủ T1 đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì T1 đồng ý. Thực hiện ý định trên, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade (không rõ biển số) chở T đi lòng vòng tìm người sơ hở trong quản lý tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 08 giờ 10 phút cùng ngày, khi cả hai đi ngang dãy phòng trọ thuộc số A, tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì T1 dừng xe lại, T đứng ngoài cảnh giới còn T1 đi vào bên trong dãy phòng trọ phát hiện cửa phòng trọ số 9 của chị Nguyễn Thị Diệp B thuê trọ không khóa, chỉ khép hờ nên T1 đẩy cửa, đi vào, lên gác lấy trộm 01 (Một) điện thoại di động Iphone 13 Promax để bên cạnh chị B đang ngủ, bỏ vào túi quần rồi xuống tiếp tục dắt 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 83V-144.84 của chị B đang dựng trong phòng trọ ra ngoài. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade đẩy T và chiếc xe vừa trộm cắp được tẩu thoát và T1 đã bán chiếc điện thoại di động cho 01 (Một) người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) được 3.000.000đồng (Ba triệu đồng), bán chiếc xe mô tô cho 01 (Một) người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) được 7.000.000đồng (Bảy triệu đồng), T1 đã chia cho T 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), T và T1 đã tiêu xài hết số tiền trên. Sự việc xảy ra, chị B đến Công an phường T trình báo. Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra, xử lý. Qua điều tra, xác minh ngày 04/5/2023, T và T1 bị khởi tố, điều tra, xử lý.
Vật chứng thu giữ, gồm:
- 01 (Một) USB ghi lại nội dung sự việc phạm tội: lưu hồ sơ vụ án.
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung số Imel: 3559930/07/957038/3 thuộc sở hữu của Mai Thành T và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13 thuộc sở hữu của Vũ Khắc T1 đều không liên quan đến sự việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho T và T1.
Đối với 01 (Một) xe mô tô gắn máy, biển số 83V1-144.84 và 01 (Một) điện thoại di động Iphone 13 Promax thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Diệp B, sau khi trộm cắp được, T1 bán cho 02 (Hai) người đàn ông (không rõ họ, địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
Đối với chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Aribale (không rõ biển số) T1 và T dùng làm phương tiện phạm tội thuộc sở hữu của Vũ H1 sinh năm 1994, ngụ tại số C, tổ C, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (là bạn quen biết với T1) đưa cho T1 sử dụng, H1 không biết T1 dùng làm phương tiện phạm tội. Sau khi T1 trả lại chiếc xe mô tô trên cho H1, H1 đã bán cho 01 (Một) người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu giữ được.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 200/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, tỉnh Đồng Nai kết luận: “01 (Một) xe mô tô gắn máy, biển số 83V1-144.84 và 01 (Một) điện thoại di động Iphone 13 Promax, loại 128Gb có tổng giá trị định giá tài sản là 50.681.500đồng (Năm mươi triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm đồng)”.
Trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Diệp B yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.
Bản cáo trạng số: 564/CT-VKSBH ngày 03/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo Mai Thành T và Vũ Khắc T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Mai Thành T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Vũ Khắc T1 từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 587 Bộ luật dân sự.
Buộc các bị cáo Mai Thành T, Vũ Khắc T1 bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị Diệp B theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo Mai Thành T: Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo Vũ Khắc T1: Kính mong Hội đồng xét xử xem xét hành vi của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa mô tả. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 10/4/2023, tại phòng trọ số 9 thuộc dãy nhà trọ số A, tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo Mai Thành T và Vũ Khắc T1 đã có hành vi trộm cắp 01 (Một) xe mô tô biển số 83V1-144.84 và 01 (Một) điện thoại di động Iphone 13 Promax, loại 128Gb có tổng giá trị định giá là 50.681.500đồng (Năm mươi triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm đồng) của chị Nguyễn Thị Diệp B. Đến ngày 04/5/2023, các bị cáo T và T1 bị khởi tố, điều tra, xử lý.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 200/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (Một) xe mô tô gắn máy, biển số 83V1-144.84 và 01 (Một) điện thoại di động Iphone 13 Promax, loại 128Gb có tổng giá trị định giá tài sản là 50.681.500đồng (Năm mươi triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm đồng)”.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, bị cáo Mai Thành T là người rủ rê, tích cực thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản.
Bị cáo Vũ Khắc T1 là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản.
Hành vi của các bị cáo Mai Thành T, Vũ Khắc T1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân. Nên cần có một mức án nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Mai Thành T: Không.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Vũ Khắc T1: Ngày 27/3/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản. Ngày 08/3/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 (T2) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 15/6/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 (T2) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích (chưa trộm cắp được tài sản gì) nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 587 Bộ luật dân sự.
Quá trình điều tra bị hại chị Nguyễn Thị Diệp B yêu cầu các bị cáo Mai Thành T, Vũ Khắc T1 bồi thường số tiền 50.681.500đồng (Năm mươi triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm đồng). Tại phiên tòa các bị cáo Mai Thành T, Vũ Khắc T1 đồng ý bồi thường cho chị Nguyễn Thị Diệp B số tiền 50.681.500đồng (Năm mươi triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm đồng). Nên ghi nhận.
Bị cáo Mai Thành T bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị Diệp B số tiền số tiền 25.340.750đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
Bị cáo Vũ Khắc T1 bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị Diệp B số tiền 25.340.750đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Mai Thành T, Vũ Khắc T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Mai Thành T phải chịu 1.267.037đồng (Một triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm ba mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Khắc T1 phải chịu 1.267.037đồng (Một triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm ba mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[9] Đối với 02 (Hai) người đàn ông (không rõ họ, tên, địa chỉ) đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 83V1-144.84 và 01 (Một) điện thoại di động Iphone 13 Promax do các bị cáo T và T1 trộm cắp mà có, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa làm việc được nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Mai Thành T, Vũ Khắc T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Mai Thành T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2023.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Vũ Khắc T1 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 587 Bộ luật dân sự.
Bị cáo Mai Thành T bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị Diệp B số tiền số tiền 25.340.750đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
Bị cáo Vũ Khắc T1 bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị Diệp B số tiền 25.340.750đồng (Hai mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Mai Thành T, Vũ Khắc T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Mai Thành T phải chịu 1.267.037đồng (Một triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm ba mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Khắc T1 phải chịu 1.267.037đồng (Một triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn không trăm ba mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Dung |
Bản án số 625/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 625/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Thành Thịnh + đp
