|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 624/2024/HSPT Ngày 12 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam
Các Thẩm phán : Ông Bùi Anh Thắng
Bà Đặng Thị Thơm
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lý, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 297/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo Đỗ Mạnh H, Nguyễn Văn D do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 158/2023/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Đỗ Mạnh H, sinh năm 1977; nơi ĐKHKTT: phòng 102, B, khu tập thể K, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội; chỗ ở: số H, ngõ B, đường N, phường H, quận T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: nguyên Trưởng phòng vận tải phía Bắc Công ty Y1; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Trọng P, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1948; gia đình có 02 chị, em bị cáo là con thứ hai; có vợ là Nguyễn Tú A, sinh năm 1977 và 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 01/7/2020 đến ngày 07/10/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Mạnh H (do bị cáo mời): Ông Hoàng Văn L - Luật sư Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ số H, ngách C, tổ dân phố E, phường X, quận N, thành phố Hà Nội;
2. Nguyễn Văn D, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: khu phố X, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: nguyên Giám đốc Công ty M2; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1957; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư; có vợ là Nguyễn Thị C1, sinh năm 1988 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn D (do bị cáo mời): Luật sư Trần Hoàng Hùng C2 - Công ty L2; địa chỉ số E đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa, xong bị cáo đồng ý người bào chữa do Tòa chỉ định: Luật sư Lê Thị Hải Y – Công ty L3, Đoàn Luật sư H, có mặt.
Bị hại: Công ty TNHH N1; địa chỉ: Cao ốc S, số H đường Đ, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh do ông Đỗ Thái V – Phó Tổng Giám đốc đối ngoại, bà Nguyễn Thị Hải V1 - Giám đốc cấp cao pháp lý và ông Bùi Hồng M – Trưởng phòng đối ngoại là đại diện theo uỷ quyền; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Y2; địa chỉ: khu phố Đ, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo ủy quyền và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho công ty Y1: Ông Nguyễn Chí D3, Luật sư Công ty L4, Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ: số H, đường K, phường S; thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, vắng mặt;
Ngoài ra còn có bị cáo khác không kháng cáo và người làm chứng Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2014, Công ty TNHH Y2 (viết tắt là Công ty Y1) ký hợp đồng cung cấp dịch vụ quản lý kho hàng, vận chuyển hàng hóa cho Công ty TNHH N1 (viết tắt là Công ty N1); theo đó, Công ty Y1 có trách nhiệm quản lý kho hàng, vận chuyển hàng hóa từ kho của Công ty N1 tại khu công nghiệp V và thành phố Hồ Chí Minh đến các đại lý, nhà phân phối và khách hàng theo chỉ định đơn hàng của Công ty N1.
Quy trình vận chuyển hàng hóa tại kho của Công ty N1 ở Khu công nghiệp V như sau:
- Hàng ngày, Công ty N1 tạo số lượng đơn hàng cần giao cho khách hàng của ngày hôm sau trên phần mềm của Công ty N1, sau đó dữ liệu thông tin đơn hàng được truyền sang phần mềm tự động WX3 của Công ty Y1. Năm 2018, anh Nguyễn Văn Q và anh Nguyễn Ngọc V2 là nhân viên của Phòng vận tải Công ty Y1 làm nhiệm vụ tải dữ liệu đơn hàng từ phần mềm WX3 về và xây dựng “Kế hoạch giao hàng” cho đội xe Công ty Y1 và đội xe của từng Nhà thầu vận tải (việc xây dựng kế hoạch phải thực hiện xong trong buổi tối ngày hôm trước cho đơn hàng ngày hôm sau). Kế hoạch này đã được đánh số thứ tự chuyến (chuyến do nhà thầu nào vận chuyển, vận chuyển đến những điểm giao hàng nào cho khách hàng). Sau khi “Kế hoạch giao hàng” lập xong thì bộ phận vận tải sẽ gửi qua Email cá nhân cho nhân viên giám sát vận tải thuộc bộ phận cung ứng sản xuất Công ty N1 là anh Khúc Mạnh K phê duyệt và giám sát. Nếu đồng ý thì anh K sẽ phản hồi lại qua E là “Ok” hoặc không phản hồi gì, còn nếu chỉnh sửa thì anh K sẽ phản hồi luôn qua Email. Khi kế hoạch đã được phê duyệt thì bộ phận vận tải sẽ chuyển kế hoạch này cho các đơn vị nhà thầu qua Email để các nhà thầu chuẩn bị xe, lái xe thực hiện việc vận chuyển. Kế hoạch cũng có thể được điều chỉnh cho phù hợp với thực tế quá trình vận chuyển hàng hóa. Việc điều chỉnh cũng được trao đổi giữa các bộ phận chuyên môn của Công ty N1 và Công ty Y1.
- Khi kế hoạch được duyệt thì anh Q và anh V2 chuyển qua Email cá nhân (do Công ty Y1 cấp) cho bộ phận quản lý đơn hàng kho Công ty Y1. Bộ phận quản lý đơn hàng thao tác trên phần mềm “TX3” của Công ty Y1 rồi in ra phiếu soạn hàng và Phiếu xuất kho từ dữ liệu “TX3”. Mỗi một chuyến xe (cột dữ liệu) in 01 phiếu soạn hàng trên phiếu soạn hàng có thông tin loại hàng hóa, số lượng hàng hóa, đơn vị nhà thầu vận chuyển của chuyến đó. Phiếu xuất kho gồm có 04 liên (trắng, hồng, vàng, xanh), các phiếu xuất kho thể hiện thông tin: Đơn hàng, số lượng, khối lượng hàng, khách hàng, địa chỉ khách hàng.... Bộ phận thủ kho sẽ lấy phiếu soạn hàng để chủ động sắp xếp trước hàng xuất kho, sau đó chuyển lại cho bộ phận quản lý đơn hàng. Bộ phận quản lý đơn hàng chuyển phiếu soạn hàng và phiếu xuất kho (04 liên) cho bộ phận điều vận của phòng vận tải để phát cho lái xe vào kho lấy hàng. Thường mỗi đơn hàng sẽ là một phiếu xuất kho, trường hợp số lượng hàng lớn thì có thể một đơn hàng cần nhiều phiếu xuất kho. Lái xe của các đơn vị đến lấy hàng: Nhận phiếu soạn hàng và phiếu xuất kho (04 liên) từ bộ phận điều vận cầm đến kho nhận hàng từ thủ kho (đối với các xe của Công ty Y1 thì lái xe cầm cả Lệnh điều động xe đến để nhận hàng). Thủ kho đã soạn hàng sẵn và giao hàng cho lái xe. Lái xe nhận đủ số lượng hàng đưa lên xe theo phiếu soạn hàng và các phiếu xuất kho thì ký tên trên phiếu xuất kho cùng với thủ kho và nhân viên kho. Trên phiếu xuất kho có ghi cả thông tin biển số xe lấy hàng. Sau đó, thủ kho sẽ giữ lại phiếu soạn hàng và liên 01 phiếu xuất kho (liên màu trắng) còn lại giao cho lái xe 03 phiếu xuất kho (liên màu hồng, vàng, xanh). Lái xe cầm 03 liên phiếu xuất kho lên bộ phận quản lý đơn hàng, để bộ phận quản lý đơn hàng in hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) cho các đơn hàng rồi kẹp cùng bộ chứng từ phiếu xuất kho đi giao hàng. Khi giao hàng, lái xe sẽ cho khách hàng ký vào mục khách hàng trên phiếu xuất kho, khách hàng giữ lại 01 liên màu hồng và hóa đơn GTGT; lái xe giữ 01 liên màu vàng về giao cho nhà thầu, 01 liên màu xanh đối với các nhà thầu thì giao trả lại cho bộ phận vận tải của Công ty Y1. Đối với xe của các nhà thầu thì lái xe giao liên xanh cho Lê Thị H1 - Nhân viên bộ phận vận tải; đối với xe của Công ty Y1 thì lái xe giao liên xanh, liên vàng và cả Lệnh điều động xe trước đó cho Ngô Thị T - Nhân viên bộ phận vận tải năm 2018, 2019.
Quy trình, thủ tục thanh toán cước vận chuyển như sau:
- Hàng ngày, Bùi Thị M1 - Nhân viên phòng vận tải có nhiệm vụ theo dõi, lập bảng kê số liệu các chuyến xe vận chuyển hàng của cả Đội xe Công ty Y1 và các Nhà thầu vận tải dựa trên kế hoạch vận tải. Cuối tháng, M1 tổng hợp thành bảng kê doanh thu tạm tính và báo cáo Đỗ Mạnh H - Trưởng phòng vận tải phía Bắc Công ty YCH kiểm tra, phê duyệt qua Email nội bộ. Sau khi H phê duyệt thì M1 gửi Email cho K - Nhân viên Công ty N1 để kiểm tra, đối chiếu và thống nhất số liệu. Sau khi K đã chốt số liệu và xác nhận bảng kê thanh toán qua Email thì M1 sẽ chuyển kết quả xác nhận này qua Email cho bộ phận kế toán và các bộ phận khác của hai công ty để xuất hóa đơn, làm thủ tục thanh toán theo số liệu đã được chốt. Trong thời gian này, M1 cũng đối chiếu chốt số liệu thanh toán cước vận chuyển với từng nhà thầu vận tải bằng bảng kê chi phí cước vận chuyển hàng tháng. Sau khi chốt số liệu thì M1 đề nghị các nhà thầu in bảng kê chi phí đề nghị thanh toán, ký xác nhận kèm theo hóa đơn GTGT chuyển cho Đỗ Mạnh H ký xác nhận vào bảng kê chi phí này và đề nghị Công ty Y1 thanh toán cho nhà thầu. Toàn bộ hoạt động điều hành vận tải hàng ngày từ khâu lên kế hoạch vận tải đến lập bảng kê doanh thu thanh toán với Công ty N1 và bảng kê chi phí thanh toán cho các nhà thầu vận tải do Đỗ Mạnh H quản lý, giám sát và chịu trách nhiệm.
- Để thực hiện hợp đồng vận tải với Công ty N1 tại Khu công nghiệp V, Công ty Y1 đã ký hợp đồng vận tải với Công ty TNHH M2 (viết tắt là Công ty M2 do ông Nguyễn Văn D là Giám đốc) và một số nhà thầu vận tải khác. Quá trình thực hiện, Đỗ Mạnh H với chức vụ là Trưởng phòng Phòng vận tải phía Bắc Công ty Y1 có nhiệm vụ giám sát, điều hành hoạt động của Phòng vận tải phía Bắc. Hàng tháng, H có trách nhiệm kiểm tra, duyệt bảng kê số liệu bảng kê doanh thu, chi phí tạm tính do M1 - Nhân viên phòng vận tải tổng hợp, chốt số liệu bảng kê doanh thu Công ty Y1 với K - nhân viên Công ty N1. Sau đó, Đỗ Mạnh H ký duyệt, chốt bảng kê chi phí với các nhà thầu vận tải của Công ty Y1.
- Việc thanh toán cước dịch vụ vận chuyển đối với kênh nhà hàng, khách sạn, siêu thị (KA-MT) dựa trên hợp đồng đã ký kết giữa Công ty Y1 với Công ty P3 và Công ty Y1 với các nhà thầu. Về phương thức tính giá kết hợp với thỏa thuận về cách tính chuyến giữa đại diện hai bên Công ty, thể hiện bằng Email trao đổi giữa các bộ phận vận tải của công ty Y1 và Công ty N1, bộ phận bán hàng của Công ty N1 và bộ phận giám sát PA Công ty N1 để xây dựng kế hoạch giao hàng và phương thức thanh toán như sau:
- Đối với chuyến xe cố định được tính theo đơn giá VNĐ/chuyến/ngày.
- Đối với chuyến xe tăng cường được thanh toán theo hai loại:
- + Ngoài TP . (HNC) đơn giá là VNĐ/tấn/km, nhỏ hơn 02 tấn
- + Trong TP . (HNP) đơn giá là VNĐ/tấn/km, nhỏ hơn 1,4 tấn.
Khi 01 chuyến hàng vận chuyển có tổng khối lượng nhỏ hơn 02 tấn cho HNC và 1,4 tấn cho HNP, nhưng vẫn đạt đủ số điểm giao hàng (6 điểm giao đối với HNC và 4 điểm giao đối với HNP) thì khối lượng được áp dụng tính cước vận chuyển vẫn được coi là 02 tấn đối với HNC và 1,4 tấn đối với HNP.
- Đối với đơn hàng vượt quá 02 tấn cho HNC, hoặc 1,4 tấn đối với HNP: Được tính bằng khối lượng thực tế nhân số km nhân đơn giá.
Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của Công ty N1.
- Đỗ Mạnh H là Trưởng phòng Phòng vận tải phía Bắc Công ty Y1 có nhiệm vụ giám sát, điều hành hoạt động của Phòng vận tải phía Bắc; H lợi dụng nhiệm vụ được giao, sự sơ hở trong quá trình kiểm tra giám sát vận chuyển hàng hóa, thanh toán cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT và cách thức Barem tính chuyến để xây dựng kế hoạch, thanh toán theo chuyển hàng vận chuyển. Trong thời gian từ tháng 8/2018 đến tháng 02/2019, H đã tự chèn thêm những chuyến xe khống (không chạy trên thực tế) vào bảng kê cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT đề nghị Công ty N1 thanh toán cho Công ty Y1. Đồng thời H cũng chèn thêm những chuyến xe khống đó trên bảng kê cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT của Công ty M2 - Giám đốc Nguyễn Văn D đề nghị Công ty Y1 thanh toán. Mục đích, sau khi Công ty N1 trả tiền cước vận chuyển cho Công ty YCH theo bảng kê doanh thu, đề nghị thanh toán, thì Công ty Y1 sẽ thanh toán tiền cước vận chuyển cho các nhà thầu vận tải của Công ty Y1 theo bảng kê chi phí đề nghị thanh đoán, trong đó có Công ty M2. Sau khi nhận được tiền cước vận chuyển do Công ty Y1 thanh toán, Nguyễn Văn D chuyển lại cho H toàn bộ số tiền cước vận chuyển của những chuyến xe khống do H tạo thêm.
Tháng 7/2018, Đỗ Mạnh H yêu cầu Bùi Thị M1 tách đơn hàng trong một số chuyến xe, ghép lại với nhau tạo ra các chuyến xe khống để chèn vào bảng kê tạm tính thanh toán của Công ty Y1 đối với Công ty N1, nhưng M1 không làm, nên hàng tháng H đã yêu cầu M1 gửi riêng bảng kê doanh thu tạm tính của Công ty Y1 đề nghị Công ty N1 thanh toán qua Email, Z cho H trước khi gửi cho PepsiCo và các bộ phận khác. Sau khi nhận được bảng kê doanh thu tạm tính do M1 lập, H tự chỉnh sửa bảng kê tạo ra các chuyến xe khống trên bảng kê kênh KA-MT từ tháng 06/2018 đến tháng 01/2019 và chuyển lại cho M1 để cụ thể như sau:
1. Tách một phần khối lượng của đơn hàng, sau đó ghép lại tạo thành một chuyến hàng khống, không có hàng hóa thật, trong đó: Đối với cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT thì một chuyến xe của Công ty Y1 vận chuyển một hoặc nhiều đơn hàng. Căn cứ số liệu trên bảng kê tạm tính do Bùi Thị M1 gửi, H đã tìm các chuyến xe của Công ty Y1 và nhà thầu vận tải khác vận chuyển thực tế có khối lượng đơn hàng lớn (thường là các chuyến chở khối lượng hàng khoảng trên 01 tấn). Sau đó H tách lấy một phần khối lượng của các chuyến này ghép với nhau để tạo thành một chuyến xe khống do Công ty M2 vận chuyển sao cho đảm bảo các chuyến xe thực tế của Công ty Y1 và các nhà thầu vận tải khác sau khi tách, ghép vẫn được thanh toán (điều kiện thanh toán cho một chuyến xe chở hàng cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT: Với các chuyến xe đi ngoài TP . phải có khối lượng hàng từ 800 kg đến 1,4 tấn hoặc đủ 4 điểm giao hàng; Với các chuyến xe chở hàng trong TP . thì phải có khối lượng hàng đủ 02 tấn hoặc đủ 6 điểm giao hàng).
Với cách tách, ghép trên thì tổng khối lượng đơn hàng vận chuyển vẫn bảo toàn. Tuy nhiên sẽ làm tăng số chuyến xe vận chuyển và Công ty N1 phải trả tiền cước vận chuyển cho cả chuyến xe thực tế và chuyến xe khống. Nên Công ty N1 bị thiệt hại số tiền cước vận chuyển trả cho các chuyến xe khống.
2. Lấy đơn hàng đi ngoài HNC ghép với đơn hàng đi trong HNP: H lấy 01 hoặc 02 đơn hàng của một chuyến xe chở hàng ngoài HNC (do nhà thầu khác thực hiện) để ghép với chuyến xe chở hàng đi trong HNP (khoảng cách tối đa là 25 km) để thành chuyến xe vận chuyển hàng có các điểm trả hàng cả trong và ngoài HNC, HNP, để tăng cước vận chuyển của chuyến xe thực tế chỉ vận chuyển trong HNP (tức khống về khoảng cách vận chuyển). Trường hợp này thì tổng khối lượng đơn hàng vận chuyển vẫn bảo toàn, số chuyến xe khống đổi, nhưng Công ty N1 phải trả tiền cước vận chuyển cao hơn so với chuyến xe đi trong HNP thực tế.
Sau khi tách, ghép tạo ra các chuyến xe khống, H gửi lại bảng kê doanh thu được chèn thêm các chuyến xe khống, kèm theo một danh sách những chuyến xe khống do H tạo ra qua Email để M1 biết. Sau khi nhận được Email của H, M1 gửi bảng kê doanh thu được chèn thêm các chuyến xe khống do H lập qua Email cho Kế toán, Lãnh đạo Công ty Y1 (để báo cáo) và Công ty N1 để chốt số liệu đề nghị thanh toán. Còn đối với B kê chi phí các nhà thầu vận tải đề nghị Công ty Y1 thanh toán thì M1 tách riêng mỗi nhà thầu vận tải 01 bảng kê chi phí với đơn giá vận chuyển theo như hợp đồng đã ký kết giữa Công ty Y1 và các nhà thầu. Sau đó, M1 gửi bảng kê chi phí này cho từng nhà thầu vận tải để chốt số liệu làm thủ tục thanh toán. Khi lập bảng kê chi phí như vậy, thì các chuyến xe khống do H tạo ra cũng được chèn thêm vào bảng kê chi phí của Công ty M2. Các chuyến xe khống này được M1 ký hiệu (MT3) hoặc không có biển số xe chạy để Nguyễn Văn D biết và rút tiền ra chuyển lại cho H tiền cước vận chuyển của các chuyến xe khống sau khi được Công ty Y1 thanh toán.
Với thủ đoạn và cách thức như trên, trong thời gian từ tháng 08/2018 đến tháng 01/2019, H đã có hành vi lập khống 705 chuyến xe đưa vào bảng kê đề nghị Công ty N1 và bảng kê chi phí với nhà thầu vận tải Công ty M2 để đề nghị Công ty N1 thanh toán trả cho Công ty Y1 cước vận chuyển từ tháng 6/2018 đến tháng 12/2018 với tổng số 642 chuyến xe khống = 1.135.911.594 đồng.
Sau khi Công ty N1 thanh toán, Công ty Y1 đã thanh toán cho Công ty M2 ngoài tiền cước vận chuyển trên thực tế từ tháng 6/2018 đến tháng 12/2018 của Công ty M2 là 642 chuyến, thì Công ty Y1 còn thanh toán thêm 02 chuyến cho Công ty M2 do H tạo ra trong bảng kê của Công ty M2, khác so với bảng kê của Công ty N1.
Như vậy: Công ty Y1 đã thanh toán cho Công ty M2 tổng 644 chuyến xe khống = 952.496.226 đồng. Sau khi nhận được tiền, Nguyễn Văn D - Giám đốc Công ty M2 đã rút tiền mặt và chuyển số tiền 970.500.000 đồng vào tài khoản số 12310000192629 của H tại Ngân hàng B2 - Chi nhánh Q2 (trong đó 952.496.226 đồng là tiền cước chuyến xe khống, 18.003.774 đồng là tiền cước do D lọc nhầm các chuyến xe ở bảng kê tháng 12/2018 đã thanh toán thực tế).
Cuối năm 2018, Kế toán Công ty Y1 phát hiện việc trùng đơn hàng vận chuyển giữa Công ty Y1 với Công ty M2. H yêu cầu Ngô Thị T - Nhân viên phòng vận tải theo dõi bảng kê đội xe của Công ty Y1 chỉnh sửa, bỏ các đơn hàng bị trùng trong bảng kê chi phí đội xe của Công ty Y1 từ tháng 10/2018 đến tháng 01/2019. Nguyễn Văn D trả lời Email có nội dung “giải thích công nợ từ tháng 01/2019 đến tháng 03/2019 của nhà thầu Minh T1” cho bộ phận kế toán Công ty Y1.
Sao kê tài khoản số 12310000192629 của Đỗ Mạnh H tại Ngân hàng TMCP Đ - B2 chi nhánh Q2, quận H, TP . và số tài khoản 030027386896 tại ngân hàng S1 - Chi nhánh B3 của Công ty M2; Tài khoản số 0011003463295 tại ngân hàng TMCP N2 - Chi nhánh T3 của Nguyễn Văn D, làm rõ việc chuyển tiền khống chuyến xe giữa D và H.
Quá trình điều tra Đỗ Mạnh H khai nhận có nhờ Nguyễn Văn D – Giám đốc Công ty M2 cho H chèn 644 chuyến cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT đưa vào bảng kê để Công ty M2 thanh toán tiền cước vận chuyển với Công ty Y1 và D lập 11 hóa đơn, chứng từ khống các chuyến xe trở hàng của Công ty M2 để hoàn ứng (không có hoặc có một phần hàng hóa thật) và đề nghị Công ty Y1 thanh toán. Sau khi được Công ty Y1 thanh toán tiền lập khống các chuyến xe, D chuyển khoản toàn bộ số tiền khống trả H 952.496.226 đồng và tiền Dĩnh trả thừa cho H là 18.003.774 đồng. Việc H tách, ghép tạo các chuyến xe khống đưa vào bảng kê đề nghị thanh toán của Công ty M2, H không báo cáo với lãnh đạo Công ty Y1 và Công ty N1, H không nói nội dung, mục đích của việc tách, ghép tạo chuyến xe khống và chia tiền hưởng lợi cho D, M1, T và K từ việc lập khống các chuyến xe. Bùi Thị M1 là nhân viên phòng vận tải của Công ty Y1 được giao nhiệm vụ theo dõi, lập bảng kê số liệu các chuyến xe vận chuyển hàng của Công ty biết H chèn thêm các chuyến xe khống nhưng vẫn chuyển các bảng kê chèn thêm các chuyến xe khống cho kế toán, lãnh đạo Công ty Y1 và Công ty N1 để Công ty N1 thanh toán tiền, giúp H chiếm đoạt 925.496.226 đồng của Công ty N1. Nguyễn Văn D biết rõ H chèn thêm 642 chuyến xe khống vào bảng kê cước dịch vụ vận chuyển kênh KA - MT vào Công ty M2 do mình làm giám đốc, nhưng vẫn đồng ý xuất hóa đơn, hợp thức hóa cho H để H chiếm đoạt số tiền 925.496.226 đồng của Công ty N1. M1 và D giúp sức cho H phạm tội, không được H chia tiền hay hướng lợi từ hành vi phạm tội của H
Tiến hành đối chất giữa Đỗ Mạnh H với ông Nguyễn Văn D (Giám đốc Công ty M2), ông Trương Vĩnh P1 (Trưởng phòng vận tải toàn quốc Công ty Y1), ông Nguyễn Nguyên H2 (Giám đốc điều hành Công ty Y1) và bà Nguyễn Thị Thanh N (Trưởng phòng kế hoạch Công ty Y1), xác định: H báo cáo bằng miệng với ông P1, H2 và chị N để chi thêm các chi phí khác mà Công ty Y1 đã chi cho H, không duyệt chi phí thêm khoản nào khác nữa.
Quá trình điều tra ông Đỗ Trọng P2 (bố đẻ Đỗ Mạnh H) đã nộp 400.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu đề nghị gì.
Tiến hành làm việc với Công ty Y1 kết quả:
- Công ty Y1 đã xuất hóa đơn đề nghị Công ty N1 thanh toán đến hết ngày 18/8/2019. Tuy nhiên, Công ty N1 mới thanh toán cho Công ty Y1 đến hết tháng 12/2018; từ tháng 01/2019 đến tháng 08/2019, Công ty N1 đã thanh toán đối với các hóa đơn của dịch vụ vận chuyển hàng nhà phân phối, còn hóa đơn của cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT thì chưa thanh toán. Do có nghi ngờ về việc gian lận trong bảng kê cước vận chuyển của Công ty Y1 nên Công ty N1 chưa thanh toán đối với cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT.
- Công ty Y1 đã thanh toán cho các nhà thầu phụ đến hết tháng 12/2018. Từ tháng 01/2019 đến tháng 08/2019, Công ty Y1 thanh toán cho các nhà thầu phụ đối với hóa đơn dịch vụ vận chuyển nhà phân phối, còn hóa đơn của cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT thì Công ty Y1 chưa thanh toán cho các Công ty M2, Công ty K1, Công ty V3.
- Để hoàn ứng khoản chi phí Công ty Y1 đã chi tạm ứng cho H xin giấy phép vào phố cấm là 96.000.000₫ của Q1 I, II, III /2018 và một số khoản chi phí làm đăng kiểm xe và làm phù hiệu cho đội xe của Công ty Y1, Nguyễn Văn D xuất 03 hóa đơn khống cước vận chuyển cho Đỗ Mạnh H.
- 08 hóa đơn xuất khống, Công ty Y1 chi nhánh B3 kê khai, báo cáo thuế độc lập, còn thuế thu nhập doanh nghiệp quyết toán chung tại Công ty Y1.
- 03 hóa đơn xuất khống, sau khi phát hiện Công ty Y1 đã kê khai thuế bổ sung, Cục thuế tỉnh B đã hủy bỏ ngày 03/10/2020.
- Công ty Y1 đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Công ty N1 952.946.226 đồng nên yêu cầu Đỗ Mạnh H, D, M1 liên đới bồi thường trả Công ty Y3 số tiền này.
Công ty Y1 đánh giá Đỗ Mạnh H, Bùi Thị M1 và Nguyễn Văn D trong quá trình công tác, hợp tác đã có đóng góp cho công ty. Quá trình phạm tội của các bị cáo một phần do chưa nhận thức rõ hành vi của mình và pháp luật cũng như chưa có nhiều kinh nghiệm. Các bị cáo đã cố gắng khắc phục, sửa chữa thiệt hại và cùng công ty hợp tác với cơ quan điều tra trong giải quyết vụ án. Công ty Y1 đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho cả ba bị cáo.
Tiến hành làm việc với Công ty N1 kết quả:
- Sau khi nhận được bảng kê đề nghị thanh toán do bộ phận vận tải của Công ty Y1 chuyển đến, vì số lượng đơn hàng, chuyến xe hàng tháng quá nhiều các nhân viên của các bộ phận Công ty N1 được giao trách nhiệm kiểm tra đã kiểm tra sắc xuất, ngẫu nhiên đối chiếu so sánh số liệu trên bảng kê. Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu chỉ cần đảm bảo số lượng tổng đơn hàng đảm bảo đúng như trên hệ thống của Công ty N1 và hàng hóa đã được giao cho khách hàng của PepsiCo. Phía Công ty N1 cũng không có văn bản quy định nào hướng dẫn cụ thể về cách thức kiểm tra, đối chiếu số liệu cụ thể chi tiết trên bảng kê đề nghị thanh toán và chốt thanh toán với Công ty Y1 đối với cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT.
- Công ty N1 ký hợp đồng số 8060.2016.64 ngày 15/5/2016 với Công ty Y1 về việc vận chuyển hàng tại Việt Nam. Sau khi phát hiện Đỗ Mạnh H lập khống chuyến xe, Công ty Y1 đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Công ty N1 952.946.226 đồng, đến nay Công ty N1 không yêu cầu Công ty Y1 và Đỗ Mạnh H phải bồi thường gì về thiệt hại.
Việc xuất khống 11 hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) của Công ty M2:
- Để hợp thức cho 704 chuyến xe khống do Đỗ Mạnh H tạo ra và chèn vào bảng kê thanh toán cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT, từ tháng 06/2018 đến tháng 01/2019, Nguyễn Văn D - Giám đốc Công ty M2 đã có hành vi xuất 08 hóa đơn khống cho Công ty Y1 để Công ty Y1 thanh toán tiền cước vận chuyển từ tháng 06/2018 đến tháng 01/2019 với Công ty N1 cụ thể.
- Hóa đơn số 15 ngày 30/6/2018 tiền hàng sau thuế VAT: 105.409.520đ.
- Hóa đơn số 21 ngày 31/7/2018 tiền hàng sau thuế VAT 188.789.424đ.
- Hóa đơn số 27 ngày 31/8/2018 tiền hàng sau thuế VAT 379.899.406₫.
- Hóa đơn số 34 ngày 30/9/2018 tiền hàng sau thuế VAT 335.318.090đ.
- Hóa đơn số 40 ngày 31/10/2018 tiền hàng sau thuế VAT 407.262.838₫.
- Hóa đơn số 46 ngày 30/11/2018 tiền hàng sau thuế VAT 385.688.522d.
- Hóa đơn số 53 ngày 31/12/2018 tiền hàng sau thuế VAT 382.293.760đ.
- Hóa đơn số 59 ngày 31/1/2019 tiền hàng sau thuế VAT 563.207.096₫.
- 08 hóa đơn cước vận chuyển từ tháng 6/2018 đến tháng 01/2019 kèm theo bảng kê cước vận chuyển có các chuyến xe khống do H tạo ra và được chèn thêm vào bảng kê đề nghị Công ty Y1 thanh toán. Trong đó hóa đơn số 15 và 21 kèm theo bảng kê khống cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT của tháng 6/2018 và tháng 07/2018 khống toàn bộ. 06 hóa đơn còn lại kèm bảng kê cước vận chuyển các tháng 8,9,10,11,12/2018 và tháng 01/2019 khống một phần.
- 03 hóa đơn số 10, 33, 52 để hoàn ứng khoản chi phí mà Công ty Y1 đã chi tạm ứng cho H xin giấy phép vào phố cấm là 96.000.000đ/quý và một số khoản chi phí không có hóa đơn là chi phí vận chuyển hàng nguy hiểm, chi phí làm phù hiệu cho đội xe của Công ty Y1, cụ thể:
- Hóa đơn số 10 ngày 9/6/2018 tiền hàng sau thuế VAT: 133.875.000đ.
- Hóa đơn số 33 ngày 30/9/2018 tiền hàng sau thuế VAT 124.500.000₫.
- Hóa đơn số 52 ngày 31/12/2018 tiền hàng sau thuế VAT 108.000.000đ.
Kết luận giám định thuế:
Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định thuế của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B (PC03) về việc Công ty M2 lập, sử dụng 11 hoá đơn khống, ngày 25/10/2022 Cục thuế tỉnh B đã ban hành kết luận giám định tập thể, Kết luận:- Hành vi lập khống 11 hóa đơn GTGT có nội dung cước vận chuyển hàng hóa với giá trị được ghi không có thực một phần hoặc toàn bộ của Nguyễn Văn D - Giám đốc Công ty M2 là hành vi Sử dụng bất hợp pháp hóa đơn. Hành vi sử dụng bất hợp pháp hóa đơn bị xử phạt theo quy định tại khoản 5 Điều 38 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP của Chính phủ.
- Đối với 08 hóa đơn GTGT số 15,21,27,34,40,46,53 và 59 thì Công ty M2 đã được Công ty Y1 thanh toán tiền cước vận chuyển 07 hóa đơn còn 01 hóa đơn số 59 chưa được Công ty Y1 thanh toán. Sau khi Công ty Y1 thanh toán cước vận chuyển từ tháng 6/2018 đến tháng 12/2018 thì Nguyễn Văn D - Giám đốc Công ty M2 đã chuyển lại số tiền lập khống trong 07 hóa đơn này vào tài khoản các nhân của Đỗ Mạnh H - Trưởng phòng vận tải phía bắc Công ty YCH, D đã giữ lại 10% tiền thuế VAT = 95.249.226 đồng để nộp thuế vào Nhà nước.
- Còn 03 hóa đơn khống số 10,33,52 thì Nguyễn Văn D - Giám đốc Công ty M2 đã xuất cho Công ty Y1 theo sự trao đổi, thỏa thuận với Đỗ Mạnh H - Trưởng phòng vận tải phía bắc Công ty Y1 để hoàn ứng một số khoản chi phí Công ty Y1 đã tạm ứng cho H. Công ty Y1 không thanh toán cho Công ty M2 giá trị tiền ghi trên 03 hóa đơn này.
- Công ty M2 đã kê khai sử dụng 11 số hóa đơn khống nêu trên để nộp tiền thuế hóa đơn GTGT và thuế TNDN cho Cơ quan Thuế theo quy định. Công ty M2 cũng không sử dụng hóa đơn đầu vào để hợp thức cho 11 số hóa đơn xuất khống nêu trên.
- Không có căn cứ xác định hành vi xuất 11 số hóa đơn GTGT khống của Công ty TNHH M2 là hành vi mua, bán trái phép hóa đơn.
* Vật chứng được niêm phong lưu hồ sơ:
- 02 USB số seri BN190526279Z chứa nội dung dữ liệu Email hung.do@ych.comMạnh H, E mai.bui@ych.comBùi Thị Mai.
- 04 thẻ ngân hàng ATM Đỗ Mạnh H số 9704368616942317014 Ngân hàng V4; số 4220768689464863 Ngân hàng T4; số 9704180085938082 Ngân hàng B2 và số 9704180115962235 Ngân hàng B2.
- 03 USB do Bùi Thị M1, Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị T2.
- 01 USB chứa dữ liệu trên phần mềm TX3 của Công ty Y1.
- 02 USB chứa dữ liệu Email của Đỗ Mạnh H, Bùi Thị M1.
- 01 USB chứa dữ liệu bảng kê doanh thu tạm tính từ tháng 06/2018 đến tháng 01/2019 của Bùi Thị M1.
- 01 ổ cứng di động 1TB nhãn hiệu WD Elements chứa dữ liệu Email của một số nhân viên Công ty Y1.
- 01 USB chứa dữ liệu Báo cáo doanh thu, chi phí trích trước (năm 2018 và 8 tháng đầu năm 2019 của Công ty Y1.
* Vật chứng chuyển thi hành án:
- 01 điện thoại nhãn hiệu HUAWEI màu xanh đen có số Imei: 867599040794797 và 867599040814801 của Đỗ Mạnh H (được niêm phong).
- 400.000.000 đồng tiền Việt Nam.
Ngày 18/4/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử vụ án. Tại phiên tòa, HĐXX đã quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung vì có những vấn đề Hội đồng xét xử không thể khắc phục được tại phiên tòa.
Tại bản Cáo trạng số: 157/CT-VKS-P1 ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Đỗ Mạnh H, Nguyễn Văn D, Bùi Thị M1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 158/2023/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Mạnh H, Nguyễn Văn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Mạnh H 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian bắt tạm giam từ ngày 01/7/2020 đến ngày 07/10/2020.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn D 07 (B1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm, phổ biến quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
3. Kháng cáo:
3.1. Ngày 09/01/2024, bị cáo Đỗ Mạnh H kháng cáo bản án sơ thẩm về tội danh;
3.2 Ngày 10/01/2024, bị cáo Nguyễn Văn D kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo;
4. Tại phiên tòa phúc thẩm:
4.1. Các bị cáo Đỗ Mạnh H ban đầu kháng cáo về tội danh, sau đó thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Tòa án sơ thẩm đã tuyên và xin thay đổi kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạy; bị cáo Nguyễn Văn D giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
4.2. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Các bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên đề nghị Tòa án xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, các Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo H không xuất trình được tài liệu chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình; bị cáo D xuất trình thêm giấy xác nhận ông nội là người có công được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3; xong xét mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
4.3. Người bào chữa cho bị cáo H đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét về mặt tội danh. Bị cáo H không đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, khẳng định Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người đúng tội, bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm và rất ân hận về những việc đã làm, mong được Hội đồng xét xử xem xét chiếu cố cho hoàn cảnh gia đình bị cáo để bị cáo sớm có điều kiện về với gia đình.
4.3. Người bào chữa cho bị cáo D đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo phạm tội do cả nể, bị cáo không được hưởng lợi gì, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tại phiên tòa hôm nay bị cáo xuất trình thêm giấy xác nhận ông nội là người có công được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/01/2024, bị cáo Đỗ Mạnh H kháng cáo, ngày 10/01/2024, bị cáo Nguyễn Văn D kháng cáo là trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, ban đầu bị cáo Đỗ Mạnh H cho rằng bị cáo không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; sau đó, bị cáo Đỗ Mạnh H thay đổi quan điểm và cùng bị cáo Nguyễn Văn D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã kết luận, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2018 đến tháng 12/2018, Đỗ Mạnh H là Trưởng phòng vận tải phía Bắc Công ty Y1 đã có hành vi gian dối tách, ghép, chèn thêm để tạo ra 644 chuyến xe khống trong bảng kê cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT của Công ty Y1, dẫn tới việc Công ty N1 phải trả cho Công ty Y1 số tiền tăng thêm là 1.135.911.594 đồng; đồng thời, H trao đổi, đề nghị Nguyễn Văn D là Giám đốc Công ty M2 để cho H chèn thêm các chuyến xe khống tiền cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT trên bảng kê thanh toán của Công ty M2 với Công ty Y1, D đồng ý và để hợp thức hóa D đã làm thủ tục xuất khống 08 hóa đơn GTGT để Công ty Y1 thanh toán tiền cước vận chuyển các chuyến xe khống từ tháng 06/2018 đến tháng 01/2019; sau khi Công ty M2 được Công ty Y1 thanh toán tiền cước vận chuyển thì Dĩnh rút tiền cước của các chuyến xe khống chuyển vào tài khoản cá nhân của H số 123100000192629 tại Ngân hàng B2 số tiền 952.496.226 đồng. H không báo cáo với lãnh đạo Công ty Y1 và Công ty N1, không nói nội dung, mục đích của việc tách, ghép, lập khống các chuyến xe và chia khoản tiền trên cho ai. Do phát hiện việc trùng đơn hàng vận chuyển, Công ty Y1 đã yêu cầu cơ quan điều tra vào cuộc và đã điều tra phát hiện hành vi nêu trên của H và các đồng phạm. H khai số tiền trên được dùng việc chi tiếp khách, các khoản chi khác của Công ty Y1 nhưng không được Công ty quyết toán. Tuy nhiên, phía Công ty Y1 không thừa nhận lời khai này của H là đúng và H không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho lời khai của mình nên không có căn cứ xem xét.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo thì thấy:
[3.1] Ban đầu bị cáo Đỗ Mạnh H kháng cáo cho rằng bị cáo phạm tội “Lừa dối khách hàng”, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là không đúng.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các bị cáo thì thấy, bị cáo Đỗ Mạnh H và bị cáo Nguyễn Văn D đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo H dựa vào trách nhiệm được phân công trong Công ty Y1, dùng thủ đoạn gian dối tách, ghép, chèn thêm để tạo ra 644 chuyến xe khống trong bảng kê cước dịch vụ vận chuyển kênh KA-MT của Công ty Y1, và dùng mối quan hệ tác động đến bị cáo Nguyễn Văn D, Bùi Thị M1 để họ hoàn thiện chứng từ, sổ sách để Công ty N1 tin và thanh toán tiền cước vận chuyển tạo điều kiện để H chiếm đoạt 952.496.226 đồng. Hành vi của H là gian dối đối với Công ty Y1, là người chịu trách nhiệm trước Công ty Y1 trong việc lập bản kê cước dịch vụ nhưng H đã lập không đúng với thực tế, lợi dụng danh nghĩa Công ty Y1 yêu cầu Công ty N1 thanh toán 644 chuyến xe khống do H tạo ra làm cho Công ty N1 tin rằng 644 chuyến xe khống do H tạo ra là có thật và tự nguyện thanh toán tiền cước vận chuyển cho Công ty Y1 để Công ty Y1 thanh toán trả Công ty M2 do bị cáo Nguyễn Văn D là Giám đốc tạo điều kiện cho D giúp H chiếm đoạt số tiền 952.496.226 đồng; H có ý thức chiếm đoạt từ trước nên đã dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt, không phải lừa dối khách hàng vì vụ lợi. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Công ty N1 (không phải là quan hệ đúng đắn trong lưu thông hàng hóa, và H không phải là người bán hàng nên không có việc hành vi của H xâm phạm lợi ích của người mua hàng); gây thất thoát số tiền lớn của doanh nghiệp; làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp và tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Tuy biết việc làm của H là sai trái, D không ngăn cản H mà đồng ý tiếp tay, tạo điều kiện cho H chiếm đoạt số tiền 952.496.226 đồng của Công ty N1. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3.2] Xét vai trò của của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Bị cáo Đỗ Mạnh H là người có vai trò chính, trực tiếp chỉ đạo M1 là nhân viên cấp dưới thực hiện hành vi phạm tội; trực tiếp bàn bạc với D là Giám đốc Công ty đối tác nhà thầu về số chuyến xe khống và xử lý số tiền chênh lệch. Toàn bộ số tiền chênh lệch H không chia cho M1 và D mà chi tiêu cá nhân hết. Do đó, H phải chịu trách nhiệm là người có vai trò chính, đầu vụ trong vụ án nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự chính trong vụ án; bị cáo Nguyễn Văn D là người đã được H bàn bạc từ đầu, đề nghị cho chèn thêm các chuyến xe khống. Dĩnh biết các chuyến xe khống đó không phải là các chuyến xe thực tế mà Công ty M2 vận chuyển nhưng D vẫn đồng ý giúp H. Để hợp thức hóa các hành vi này, D đã xuất khống 08 hóa đơn GTGT để Công ty Y1 thanh toán tiền cước vận chuyển các chuyến xe khống. Sau đó, D rút số tiền của các chuyến xe khống này để chuyển vào tài khoản cá nhân của H giúp H chiếm đoạt số tiền 952.496.226 đồng của Công ty N1 nên là đồng phạm với vai trò giúp sức cho Đỗ Mạnh H.
[3.3] Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Bị cáo Đỗ Mạnh H sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng, thuộc diện gia đình chính sách; có mẹ đẻ được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì và có cha đẻ được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba, Huân chương giải phóng hạng ba, Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Ba, Huy hiệu toàn thắng xuân 1975, Huy hiệu chiến thắng năm 1972 tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo H đã tác động gia đình nộp tại Cơ quan điều tra 400.000.000 đồng và tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh số tiền 402.496.226 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000129 ngày 21/12/2023 và Biên lai thu tiền số 0000135 ngày 22/12/2023 để khắc phục hậu quả. Bị cáo được Công ty Y1 đánh giá có nhiều đóng góp trong quá trình công tác và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt với mức hình phạt 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[3.4] Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Sau khi phạm tội, bị cáo Nguyễn Văn D đã tác động gia đình nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh với số tiền là 100.200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000102 ngày 07/12/2023 để khắc phục thiệt hại và án phí, được phía Công ty Y1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo D có mẹ ruột là bà Nguyễn Thị C có giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến; bị cáo có xác nhận của chính quyền địa phương về ủng hộ phòng chống Covid-19 nên bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, Bị cáo có nhân thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và các tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt với mức hình phạt 07 (bảy) năm tù là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo
[3.5] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Mạnh H nhận thức được lỗi lầm, từ chối lời bào chữa của luật sư cho rằng bị cáo không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt”, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên và tỏ ra ăn năn hối cải, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt vì hoàn cảnh gia đình bố mẹ già yếu, bố là nạn nhân chất độc màu da cam, bị cáo là lao động chính trong gia đình, sau khi bị cáo bị tạm giam, vợ bị cáo đã ly thân, bị cáo phải chu cấp cho 2 con nhỏ. Bị cáo Nguyễn Văn D cũng thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã tuyên, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì cho rằng bị cáo phạm tội vì cả nể và do bị lệ thuộc, cần giữ mối quan hệ làm ăn nên phải làm vậy, bị cáo không tư lợi, xong bị cáo cũng đã chủ động bồi thường, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và xuất trình Giấy chứng nhận hiến máu, giấy xác nhận bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và đều đã nhận thức được lỗi lầm, hối hận về hành vi của mình đã gây ra, thiệt hại đã được các bị cáo tự nguyện khắc phục toàn bộ, phía bị hại không yêu cầu gì, các bị cáo đều có nhân thân tốt; bị cáo D có ông nội là người có công với cách mạng; Công ty Y1 đánh giá bị cáo Đỗ Mạnh H có nhiều đóng góp trong quá trình công tác tại công ty và có đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho cả hai bị cáo; để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và để đảm bảo tính công bằng, nhân đạo trong việc xử lý tội phạm, Hội đồng xét xử thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhằm động viên các bị cáo tích cực cải tạo, sớm trở thành người lương thiện để trở về đoàn tụ với gia đình. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[4] Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Mạnh H và bị cáo Nguyễn Văn D; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 158/2023/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, cụ thể:
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Mạnh H, Nguyễn Văn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Mạnh H 07 (Bảy) năm, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian bắt tạm giam từ ngày 01/7/2020 đến ngày 07/10/2020.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn D 06 (S) năm tù 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Phan Nam |
Bản án số 624/2024/HSPT ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về vụ án hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 624/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
