Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 624/2024/HS-ST

Ngày: 10-12-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC -THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
  2. Bà Nguyễn Thị Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 566/2024/HSST ngày 29/10//2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 649/2024/QĐXXST-HS ngày 25/11/2024, đối với bị cáo:

Trần Văn T; sinh năm: 1986 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B (chết) và bà Lương Thị T1; Bị cáo có vợ là Đoàn Thị N và một con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/07/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm: 1998. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số B B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn C1.

Trụ sở: Số G đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Có đại diện theo ủy quyền là chị Cao Khúc Song N1, sinh năm 1995, địa chỉ liên hệ: I K, khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Xin vắng mặt).

  1. Chị Đoàn Thị D, sinh năm: 1985. (Có mặt).

Địa chỉ: Số B đường Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Văn T hiện không có việc làm và nợ tiền nhiều người nhưng không có khả năng chi trả, T thấy các cửa hàng bán điện thoại di động trên địa bàn thành phố T có sự quản lý lỏng lẻo nên T nảy sinh ý định đánh tráo điện thoại cũ của mình để lấy điện thoại của cửa hàng nhằm mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài.

Khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 10/7/2024, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Lead biển số 59K1-163.70 đến cửa hàng D1, địa chỉ số I, K, khu phố B, phường L, thành phố T. Khi vào cửa hàng thì chị Nguyễn Thị C là nhân viên cửa hàng tư vấn cho T, lúc này T yêu cầu chị C lấy điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Pro Max 256GB màu xanh đã qua sử dụng đưa cho T xem với mục đích tráo đổi điện thoại này. Một lúc sau, T yêu cầu chị C lấy thêm điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 Pro Max và Iphone 14 Pro M cho T xem tiếp nhưng thực tế là để chị C rời khỏi quầy để T có thời gian đánh tráo điện thoại và thay tem. Khi chị C đi vào trong để lấy điện thoại khác theo yêu cầu của T thì T dùng móng tay cậy tem dán ở mặt sau của điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Pro Max của cửa hàng D1 rồi dán vào một chiếc điện thoại di động mà T chuẩn bị sẵn trước đó có nhãn hiệu và kiểu dáng giống với điện thoại di động của cửa hàng. Khi chị C quay lại thì T giao lại điện thoại cũ của mình đã chuẩn bị sẵn cho chị C còn điện thoại của cửa hàng thì T đã bỏ vào cặp xách để chiếm đoạt và viện lý do bỏ quên căn cước công dân nên đi khỏi cửa hàng và điều khiển xe về địa chỉ 26/6/1, đường Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu.

Sau khi T đi khỏi cửa hàng, chị C kiểm tra điện thoại thì phát hiện điện thoại di động có ngoại hình tương tự điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Pro Max mà T để lại không phải của cửa hàng D1 nên trình báo sự việc Công an phường L, thành phố T. Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Công an phường L mời Thao về làm việc và thu giữ đồ vật có liên quan. Tại Cơ quan Điều tra, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 330-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 17/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, Iphone 15 Pro Max 256GB màu xanh có giá trị 26.167.000 đồng.

Thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, Iphone 15 pro max 256G màu xanh Titan; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Lead biển số 59K1-163.70; 01 (một) điện thoại di động có ngoại hình tương tự Iphone 15 pro max 256G màu xanh; 01 (một) điện thoại di động iphone 8 plus màu gold 64G; 01 (một) một cặp màu xanh cỡ 25x30 cm in LAVELA bên ngoài; 01 (một) điện thoại di động oppo A55 đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh; 01 (một) quần jean dài màu xanh và 01 (một) nón bảo hiểm màu vàng; 01 (một) USB dữ liệu ghi hành vi của T tại cửa hàng.

Về trách nhiệm dân sự và phương tiện, đồ vật liên quan: Công ty Trách nhiệm hữu hạn C1 đã nhận lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Pro Max 256Gb màu xanh và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị Nguyễn Thị C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Chị Đoàn Thị D có yêu cầu nhận lại xe mô tô hiệu Honda Lead biển số 59K1-163.70.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với kết luận định giá, đồng ý với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và không khiếu nại hay có ý kiến gì khác.

Bản Cáo trạng số 523/CT-VKSTPTĐ ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội và tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/07/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả cho bị cáo T các điện thoại đã thu giữ và trả cho chị D xe mô tô hiệu Honda Lead biển số 59K1-163.70 do không liên quan đến vụ án. Đề nghị tịch thu, sung quỹ nhà nước điện thoại di động có ngoại hình tương tự Iphone 15 pro max 256G màu xanh. Đối với các vật dụng thu giữ của T do không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 USB đề nghị tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, chị Đoàn Thị D xác định là chủ sở hữu và xin nhận lại xe mô tô hiệu Honda Lead biển số 59K1-163.70.

Bị cáo không bào chữa, không tranh luận và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Nguyễn Thị C, chị Cao Khúc Song N1 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Do có mục đích chiếm đoạt tài sản nên khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 10/7/2024 tại cửa hàng D1, địa chỉ số I đường K, khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Trần Văn T đã có hành vi hỏi mua hàng để nhân viên Nguyễn Thị C giao điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Pro M cho T. Do có mục đích là để chị C rời khỏi quầy để T có thời gian đánh tráo điện thoại tương tự đã chuẩn bị sẵn và thay tem nên T yêu cầu chị C đi lấy điện thoại di động khác cho T. Khi chị C đi lấy điện thoại thì T đã sử dụng diện thoại chuẩn bị trước đó có nhãn hiệu và hình dạng giống như điện thoại mà chị C giao cho T xem rồi đánh tráo, thay tem sản phẩm để chiếm đoạt điện thoại di động hiệu Apple, loại Iphone 15 Pro Max của cửa hàng qua định giá có giá trị 26.167.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt:

Bị cáo bị truy tố, xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo:

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với các bị cáo:

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, Iphone 15 pro max 256G màu xanh titan là tài sản của cửa hàng D1. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.

Đối với: 01 (một) điện thoại di động có ngoại hình tương tự Iphone 15 pro max 256G màu xanh. Xét bị cáo dùng tài sản này vào việc phạm tội nên tịch thu, sung quỹ nhà nước.

Đối với: 01 (một) một cặp màu xanh cỡ 25x30 cm in LAVELA đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) quần jean dài màu xanh và 01 (một) mũ bảo hiểm màu vàng đã qua sử dụng. Các tài sản này không còn giá trị sử dụng, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus màu gold 64G đã qua sử dụng (mặt kính phía trước bị nứt) và 01 (một) điện thoại di động Oppo A55 đã qua sử dụng (mặt kính phía trước bị nứt). Xét các tài sản này là của bị cáo và không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

Đối với: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Lead biển số 59K1-163.70. Qua xác minh T mượn xe này của chị D và nói với chị D là đi công việc. Xét không liên quan đến vụ án nên trả lại cho chị D là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Đối với 01 (một) USB có chưa video ghi lại hành vi của T tại cửa hàng D1. Xét đây là tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn C1 đã nhận lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 15 Pro Max 256Gb màu xanh và không yêu cầu bồi thường, chị Nguyễn Thị C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

[9] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 174; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Luật Thi hành án hình sự;
  • Luật Thi hành án dân sự.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Văn T: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/07/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu, sung quỹ nhà nước đối với: 01 (một) điện thoại di động có ngoại hình tương tự Iphone 15 pro max 256GB màu xanh đã qua sử dụng.
  • Tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 (một) một cặp màu xanh cỡ 25x30 cm in LAVELA đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) quần jean dài màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu vàng đã qua sử dụng.
  • Trả lại cho bị cáo Trần Văn T: 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus màu gold 64GB đã qua sử dụng (mặt kính phía trước bị nứt) và 01 (một) điện thoại di động Oppo A55 đã qua sử dụng (mặt kính phía trước bị nứt).
  • Trả lại cho chị Đoàn Thị D: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Lead biển số 59K1-163.70 đã qua sử dụng.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 375/QĐ-VKSTPTĐ ngày 14/10/2024 và Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/10/2024)

4. Về án phí:

Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Trần Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đoàn Thị D được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Nguyễn Thị C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn C1 vắng mặt được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Nguyễn Trung Thực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 624/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 624/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Thao phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger