Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 624/2024/DS-PT

Ngày 09-12-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

----------

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Vĩnh;

Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Huỳnh Thị Đạm - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 27 tháng 11 và ngày 03, ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 468/2024/TLPT-DS ngày 28/10/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 608/2024/QĐ-PT ngày 11/11/2024, giữa:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1978;

Người đại diện hợp pháp: Đỗ Văn C, sinh năm 1978;

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Nguyễn Thị G, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người kháng cáo: Nguyễn Thị Mỷ L là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:

Chị L và chị G là chị em thân thiết nhau nhiều năm nay, năm 2022 chồng chị G là anh B bệnh nặng không có tiền điều trị bệnh nên chị L mới điện thoại nói chị G ra nhà chị L để chị L cho mượn số tiền 40 triệu. Nên vào ngày 30-12-2022 chị G ra nhà chị L lấy tiền, khi đến nhà chị L thì chị G đã làm sẵn “Giấy sang nhượng đất ruộng” và nói chị L ký để làm tin, nếu sau này vợ chồng chị L không mua đất thì giấy này sẽ hủy bỏ, do đó chị L không có đọc nội dung trong tờ giấy mà ký và mỗi bên giữ một bản. Đến khi chồng chị L là anh C về chị L đưa giấy cho đọc thì mới biết có thỏa thuận mua bán đất ruộng theo giấy sang nhượng đất ruộng với số tiền 900.000.000 đồng, đặt cọc trước số tiền 40.000.000 đồng, số tiền còn lại đến tháng 3 năm 2023 âm lịch làm thủ tục sang nhượng sẽ trả đủ. Anh C chồng chị L không đồng ý mua đất nên chị L có điện thoại nói cho chị G biết và sau đó vợ chồng chị L có đến gặp chị G và thỏa thuận hủy bỏ việc mua bán theo giấy sang nhượng đất ruộng ngày 30-12-2022, chị G thống nhất hủy việc mua bán đất ruộng và thống nhất thỏa thuận bằng miệng số tiền đặt cọc 40.000.000 đồng chuyển sang là tiền chị G vay mượn của chị L. Sau đó vài tháng chị Giàu C1 trả được 5.000.000 đồng, số tiền còn lại hứa sẽ trả từ từ đến khi hết nợ, còn nếu bán được đất sẽ trả hết một lần (việc này hòa giải tại xã T, huyện T). Sau khi thỏa thuận xong chị L có đòi nhiều lần nhưng chị G không trả mà cho rằng theo tờ giấy sang nhượng đất ruộng ngày 30-12-2022 số tiền cọc đã hủy bỏ, chị G không có trách nhiệm trả. Nay chị L yêu cầu một mình chị G phải trả cho chị L số tiền vay gốc còn thiếu là 35.000.000đồng, không tính lãi.

- Bị đơn chị Nguyễn Thị G trình bày:

Vào ngày 30-12-2022 chị G và chồng chị G là anh Nguyễn Văn B có thỏa thuận bán cho chị L 15 công tầm điền đất ruộng tọa lạc tại Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, hai bên thỏa thuận mua bán với giá 900.000.000 đồng, đặt cọc 40.000.000 đồng, còn lại 860.000.000 đồng sau khi làm thủ tục sang nhượng vào tháng 3/2023 âm lịch sẽ trả đủ. Việc thỏa thuận mua bán đất có lập “Giấy sang nhượng đất ruộng ngày 30-12-2022”, hai bên cùng ký tên. Vợ chồng chị G đã nhận đủ tiền cọc là 40.000.000 đồng tại thời điểm ký giấy sang nhượng đất. Tuy nhiên khi đến thời hạn chuyển nhượng quyền sử dụng đất (tháng 3/2023 âm lịch) theo thỏa thuận thì chị L báo với vợ chồng chị G là chị L không có khả năng nên không mua đất nữa. Do là chỗ quen biết thâm tình và vợ chồng chị G cần tiền trị bệnh nên có cho thêm thời gian để chị L chuẩn bị tiền mua đất nhưng chờ mấy tháng mà chị L vẫn trả lời là không mua. Căn cứ theo giấy sang nhượng đất ruộng ngày 30-12-2022 mà hai bên đã ký kết với nhau có nội dung “nếu bên mua không thực hiện đúng theo giấy sang nhượng này thì số tiền cọc 40 triệu đồng sẽ được hủy bỏ”. Vì vậy, chị L không mua đất thì coi như mất tiền cọc. Tuy nhiên, chỗ chị em thân thiết chị L cũng đang gặp khó khăn nên chị Giàu C1 hỗ trợ chị L 5.000.000 đồng, chị L đã nhận tiền. Đến khoảng tháng 3/2024, chị L thưa vợ chồng chị G tại UBND xã T B, khi Xã mời hòa giải thì chỉ có chị G tham gia, chồng chị G bệnh không tham gia. Tại buổi hòa giải chị G cũng trình bày rõ là chị G không có vay tiền của chị L, chỉ có việc thỏa thuận mua bán đất, nhưng nay chị L gặp khó khăn thì chị G cũng chia sẻ với chị L và đã hỗ trợ cho chị L 5.000.000 đồng rồi. Chị G không có nợ chị L, chị G không có ký tên vào biên bản hòa giải ở xã T B.

Do đó chị G không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị L bởi vì từ trước đến nay chị G không có vay mượn tiền của chị L, chị G cũng không có thiếu nợ chị L bất kỳ một khoản tiền gì.

Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 186, 188, 189, 190, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự.

Điều 24, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỷ L về việc yêu cầu bị đơn chị Nguyễn Thị G trả tiền vay gốc là 35.000.000 đồng; không có lãi.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỷ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.750.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 875.000 đồng theo biên lai thu số: 0010037 ngày 10-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, chị Nguyễn Thị Mỷ L còn phải nộp thêm 875.000 đồng.

Chị Nguyễn Thị G không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử vụ án, chị Mỷ L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm, yêu cầu áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự tuyên xử buộc chị G phải trả cho chị L số tiền 35.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt chị L, anh C, chị G. Các đương sự khẳng định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án. Chị L ( do anh C đại diện) giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình.

Anh C trình bày: Chị G vay tiền nhưng làm hợp đồng chuyển nhượng với chị L. Khi anh C biết nhưng không đồng ý đòi lại tiền thì hai bên thỏa thuận chị G vay chị L và chị G đã trả lại 5.000.000 đồng. Sau đó không thực hiện nên tranh chấp đến UBND xã T B hòa giải thì chị G cũng thừa nhận thiếu số tiền 35.000.000 đồng nhưng đến nay chưa trả nên kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết.

Chị G trình bày: Không thừa nhận hợp đồng vay mà chỉ có hợp đồng chuyển nhượng đất. Chị trả cho chị L số tiền 5.000.000 đồng tiền đặt cọc vì tình nghĩa. Không đồng ý trả số tiền 35.000.000 đồng, theo như biên bản hòa giải của xã đã ghi chị không thống nhất nội dung, không đồng ý ký tên vào biên bản hòa giải. Tại phiên tòa phúc thẩm chị cũng không đồng ý có thỏa thuận hợp đồng vay như chị L trình bày và vẫn giữ nguyên ý kiến không đồng ý yêu cầu khởi kiện của chị L.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà L với căn cứ:

Thứ nhất, chị L cho rằng sau đó hai bên không tiếp tục chuyển nhượng nên hai bên thỏa thuận chị G sẽ trả lại chị L số tiền này xem như chị L đã cho chị G mượn 40.000.000 đồng, căn cứ vào giấy chị G đã trả cho chị L số tiền 5.000.000 đồng thể hiện đây là số tiền chị G trả cho chị L.

Thứ hai, căn cứ biên bản hòa giải tại địa phương ngày 28/3/2024 có nội dung chị G đồng ý trả cho chị L số tiền 35.000.000 đồng, trả theo mùa vụ, sau đó chị G không ký tên vào biên bản này, nhưng việc chị G không ký tên vào biên bản này không phải không có nội dung là đồng ý trả 35.000.000 đồng theo mùa vụ.

Việc này cũng được chứng minh trong biên bản lấy lời khai của chị G tại Tòa án sơ thẩm, trong biên bản có ghi chị Giàu C1 hứa trả cho chị L 35.000.000 đồng theo mua vụ. Tuy nhiên sau đó anh C là chồng chị L yêu cầu trả một lần thì chị G không đồng ý nên không ký vào biên bản. Thể hiện giữa hai bên đã kết thúc việc chuyển nhượng này, và chuyển số tiền này thành số tiền chị L cho chị G mượn vay không có lãi nên đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị L.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất không có khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng, không có yêu cầu gì khác.
  2. Về nội dung vụ án tranh chấp các đương sự Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ và diễn biến phiên tòa nhận định:

    Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỷ L yêu cầu chị Nguyễn Thị G trả tiền vay còn thiếu gốc 35.00.000 đồng, không yêu cầu tiền lãi. Cả chị L và chị G đều thừa nhận số tiền này xuất phát từ “Giấy sang nhượng đất ruộng” ngày 30-12-2022 thỏa thuận giữa chị L và vợ chồng chị G về việc chị L mua của vợ chồng chị G 15 công đất ruộng tọa lạc tại ấp C, xã T, huyện T với giá 900.000.000 đồng, đưa cọc 40.000.000 đồng, số tiền còn lại tháng 3/2023 âm lịch làm thủ tục sang tên sẽ nhận đủ. Và còn thỏa thuận: trong thời gian bên mua sử dụng đất này, nếu ai tranh cản thì bên bán chịu trách nhiệm, nếu bên mua không thực hiện đúng giấy sang nhượng này thì số tiền cọc 40 triệu sẽ bị hủy bỏ. Chị L cho rằng giữa chị L và chị G đã thỏa thuận lại là 40 triệu này chuyển thành vay mượn (thỏa thuận miệng), chị G đã trả cho chị L 05 triệu, số tiền còn lại 35 triệu sẽ trả dần theo mùa vụ như biên bản hòa giải ở xã T. Nhưng chị L không cung cấp được chứng cứ chứng minh là có việc thỏa thuận lại này, trong khi chị G không thừa nhận (kể cả biên bản hòa giải ở xã chị G cũng không ký tên), chị G chỉ đồng ý hỗ trợ lại cho chị L 05 triệu do thấy chị L khó khăn. Từ những phân tích trên nhận thấy chị L không có cho chị G vay tiền mà chuyển từ tiền đặt cọc trong “Giấy sang nhượng đất ruộng” ngày 30-12-2022 sang, trong khi nội dung thỏa thuận trong “Giấy sang nhượng đất ruộng” ngày 30-12-2022 là “nếu bên mua không thực hiện đúng giấy sang nhượng này thì số tiền cọc 40 triệu sẽ được hủy bỏ”. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của chị Mỹ L về việc yêu cầu chị G trả tiền vay còn thiếu gốc 35.000.000 đồng.

  3. Đồng thời căn cứ vào đây quyết định đương sự phải chịu chi phí tố tụng dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.

    Sau khi xét xử vụ án chị L kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết là sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của chị L. Chị L không cung cấp thêm chứng cứ gì mới. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy các đương sự thống nhất là tranh chấp giữa các bên là theo giấy sang nhượng đất ruộng ngày 30/12/2022 và chị L (do anh C) thừa nhận chỉ khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay (không tranh chấp hợp đồng đặt cọc sang nhượng đất ruộng). Căn cứ đơn khởi kiện cũng như đơn kháng cáo của chị L xác định chị không có thỏa thuận mua đất ruộng với chị G do không đủ tiền mua. Sau đó chị G đến nhà chị L hỏi mượn tiền để chữa bệnh cho anh B (chồng chị G) với số tiền là 40.000.000 đồng nhưng khi nhận tiền chị G soạn sẵn giấy sang nhượng đất để hai bên ký làm tin, vì tin tưởng chị em nên chị L ktên vào giấy sang nhượng đất. Còn việc chị L cho chị G mượn tiền chỉ thỏa thuận bằng miệng không có giấy tờ gì cả. Chị G không thừa nhận có việc vay tiền thỏa thuận miệng như chị L trình bày mà chỉ có hợp đồng chuyển nhượng đất. Theo biên bản hòa giải ngày 28/3/2024 tại UBND xã T B chị G cũng không thừa nhận có hợp đồng vay tiền mà chỉ nhận 40.000.000 đồng đặt cọc mua đất. Tại phiên tòa phúc thẩm chị G xác định chị Giàu C1 trả lại cho chị L 5.000.000 đồng chỉ vì tình nghĩa, không đồng ý, không thừa nhận có hợp đồng vay tiền cũng không đồng ý ký tên với nội dung trong biên bản hòa giải.

    Do đó không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị L là đúng theo quy định pháp luật.

  4. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận kháng cáo của chị L; sửa bản án sơ thẩm là không phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên chị L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Mỷ L.
  • - Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ L về việc yêu cầu bị đơn Nguyễn Thị G trả tiền vay gốc là 35.000.000 đồng, không có lãi.
  • 2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Chị Nguyễn Thị Mỷ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.750.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 875.000 đồng theo biên lai số 0010037 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng. Chị Nguyễn Thị Mỹ L còn phải nộp thêm 875.000 đồng.

    Chị Nguyễn Thị G không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  • 3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỷ L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010202 ngày 31/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng. Chị L không phải nộp thêm.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  • Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng KTNV và THA TAT;
  • - TAND huyện Tân Hồng ;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hồng ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Chí Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 624/2024/DS-PT ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 624/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Thị Mỷ L BĐ: Nguyễn Thị G
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger