Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 623/2024/HS-ST

Ngày: 10-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hồng Phúc
  2. Ông Nguyễn Văn Phòng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 602/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 668/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Đỗ Phan Đức D, (tên gọi khác: Duy M); sinh năm; 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: B Hồ B, Tổ F, Khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đỗ Đặng San H, sinh năm: 1947 và bà Phan Thị H1; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn; vợ, con: chưa có; Tiền án: Bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 16 năm tù về tội “Giết người” theo Bản án số 2176/2009/HSST ngày 20/8/2009, đã chấp hành xong hình phạt tù, thi hành án dân sự ngày 05/3/2019 (do được giảm án); tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 01/4/1998, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 852/UBND-NCVX về việc cho về địa phương quản lý giáo dục; Ngày 26/11/2001, bị đưa người vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 5697/QĐ-UB của Chủ tịch UBND thành phố T và ngày 12/12/2002, Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định số 15717/QĐ-UB về việc tiếp tục chữa bệnh tập trung thêm 12 tháng đối với Đỗ Phan Đức D; Ngày 11/4/2024, bị Công an phường T, thành phố T xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0011575/QĐ-XPHC ngày 17/9/2024, đã nộp phạt ngày 19/4/2024; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/4/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Thị Thu H2; (tên gọi khác: Hà B) sinh năm; 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú (chỗ ở): 22/6/13, Đường F, Khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: cho vay tiền góp; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và Nguyễn Thị L; gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con út; chồng là Mai Tuấn A (đã ly hôn); con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 24/4/2024 đến ngày 09/10/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Nguyễn Chí H3, sinh năm: 1983, địa chỉ thường trú: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở: 22/6/13 Đường F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  • Ông Đoàn Thanh M1, sinh năm: 1971, địa chỉ: C Đường F, khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Mạnh H4, sinh năm: 1986, địa chỉ: A Đường A, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Công D1, sinh năm: 1966, địa chỉ: H N, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  • Bà Nguyễn Thị Thu H5, sinh năm: 1969, địa chỉ: A Đường D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 11/4/2024, Công an phường T, thành phố T, Đ - Công an thành phố T cùng các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra hành chính quán karaoke “Thùy Dương”, địa chỉ số F Đường A, khu phố P, phường T, thành phố T. Quá trình kiểm tra, tổ kiểm tra nghi ngờ Đỗ Phan Đức D có biểu hiện sử dụng ma túy nên tiến hành mời D về Công an phường làm việc và test ma túy. Qua test ma túy D dương tính với ma túy, tiếp tục kiểm tra phát hiện trong người D có 01 giấy vay mượn tiền (viết tay) số tiền 400.000.000 đồng do Đoàn Thanh M1 viết, D khai nhận có thực hiện hoạt động cho người khác vay tiền với lãi suất 10%/tháng trên địa bàn thành phố T, được lưu tại mục ghi chú trong điện thoại di động của D.

Quá trình điều tra, xác định: Đỗ Phan Đức D là người trực tiếp sử dụng số tiền cá nhân của mình cho người khác vay tiền và trực tiếp thu tiền lãi hàng tháng. Do những người vay tiền đều là những người D chơi thân quen biết nhau từ trước (trừ T2) nên mọi người khi vay tiền của D thì không trừ phí, không trừ trước. D đưa tiền gốc và nhận tiền lãi bằng tiền mặt hoặc thông qua số tài khoản mở tại Ngân hàng T6 số 19034450670017 do D đứng tên. Việc cho vay thỏa thuận được thực hiện bằng miệng, không lập biên bản, không thế chấp, không cầm cố tài sản. D chỉ cho vay dưới hình thức trả lãi đứng, có nghĩa là chỉ trả lãi theo 01 tháng với lãi suất là từ 10%/tháng đến 15%/tháng. Khách không có tiền trả gốc thì trả lãi hàng tháng theo lãi suất như trên cho đến khi khách trả đủ tiền gốc thì kết thúc khoản vay. Quá trình cho vay, D đã cho 03 người vay tiền gồm: Đoàn Thanh M1, Nguyễn Mạnh H4, Nguyễn Chí H3, cụ thể:

  1. Đoàn Thanh M1 vay của D 03 lần, cụ thể:

    Lần 1: Tháng 2/2021, M1 vay 20.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng (lãi 2.000.000 đồng/tháng). D đưa tiền vay cho M1 bằng tiền mặt sau đó do dịch C1 nên M1 không đóng tiền lãi cho D. Tháng 10/2021, M1 và D thống nhất không tính lãi 06 tháng đầu mà bắt đầu tính lãi từ tháng 8/2021. M1 đã đóng được 02 tháng tiền lãi tổng cộng 4.000.000 đồng sau đó M1 không đóng lãi và trả tiền gốc cho D. Như vậy, tính từ tháng 8/2021 đến thời điểm M1 và D thỏa thuận chốt viết Giấy mượn tiền vào tháng 6/2023 là 23 tháng, D cho M1 vay với lãi suất 10%/tháng tương đương 120%/năm. Số tiền lãi D hướng đến là: 2.000.000 đồng x 23 tháng = 46.000.000 đồng; Tiền lãi Nhà nước quy định là 20%/năm là 7.666.667 đồng. D thu lợi bất chính hướng đến là: 46.000.000 đồng - 7.666.667 đồng = 38.333.333 đồng.

    Lần 2: Tháng 01/2022, M1 tiếp tục vay 30.000.000 đồng, lãi suất 15%/tháng (lãi 4.500.000 đồng/tháng). D đưa tiền vay cho M1 bằng tiền mặt. Khoản vay này M1 chưa trả tiền cho D. Đến tháng 04/2022, D, M1 thống nhất hạ lãi suất xuống còn 10%/tháng (lãi 3.000.000 đồng/tháng) nhưng M1 vẫn chưa trả tiền cho D. Như vậy tính từ tháng 01/2022 đến 03/2022, D cho M1 vay lãi suất 15%/tháng tương ứng với 180%/năm. Số tiền lãi D hướng đến là 4.500.000 đồng x 02 tháng = 9.000.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước quy định là 20%/năm là 1.000.000 đồng, D thu lợi bất chính là 9.000.000 đồng - 1.000.000 đồng = 8.000.000 đồng. Sau khi giảm lãi lần thứ 2 xuống còn 10%/tháng vào tháng 04/2022 tính đến tháng 6/2023 tương ứng với 120%/năm là 15 tháng thì số tiền lãi D hướng đến là 3.000.000 đồng x 15 tháng = 45.000.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước quy định là 20%/năm là 7.500.000 đồng. D thu lợi bất chính là 45.000.000 đồng - 7.500.000 đồng = 37.500.000 đồng. Như vậy tổng số tiền thu lợi bất chính hướng đến lần 2 là 45.500.000 đồng.

    Lần 3: Tháng 03/2022, M1 tiếp tục vay 20.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng (lãi 2.000.000 đồng/tháng). D đưa tiền vay cho M1 bằng tiền mặt. Khoản vay này M1 chưa trả tiền cho D. Như vậy, tính từ 4/2022 đến thời điểm M1 và D thỏa thuận chốt viết giấy mượn tiền là 6/2023 là 15 tháng, D cho M1 vay lãi suất 10%/tháng (tương đương 120%/năm). Số tiền lãi D hướng đến là 2.000.000 đồng x 15 tháng = 30.000.000 đồng. Tiền lãi nhà nước quy định là 20%/năm là 5.000.000 đồng. D thu lợi bất chính là 30.000.000 đồng – 5.000.000 đồng = 25.000.000 đồng.

    Do 03 lần vay này M1 không có khả năng trả nợ tiền lãi và tiền gốc cho D nên đến ngày 28/6/2023 M1 và D gặp nhau sau đó xác định tính tổng cả gốc và lãi đến ngày 28/6/2023 thì M1 nợ D 200.000.000 đồng, M1 xin D không lấy lãi nữa, D đồng ý chốt lại tổng cộng M1 nợ 200.000.000 đồng. Bên cạnh đó, do M1 đang nợ Nguyễn Thị Thu H2 cả gốc và lãi tổng cộng 200.000.000 đồng và H2 có nhờ D thu dùm H2 nên D yêu cầu M1 viết giấy nợ, M1 đồng ý và viết 01 tờ giấy mượn nợ, nội dung M1 nợ D tổng cộng 400.000.000 đồng (không lấy lãi) và thỏa thuận đến 28/10/2023 sẽ trả hết cho D nhưng đến thời điểm D bị Công an mời làm việc thì M1 chưa trả được bất kì đồng nào cho D.

    Tổng số tiền D cho M1 vay lãi hướng đến là: 46.000.000 đồng (lần 1) + 9.000.000 đồng (lần 2) + 45.000.000 đồng (lần 2) + 30.000.000 đồng (lần 3) = 130.000.000 đồng. Số tiền lãi Nhà nước quy định là 7.666.667 đồng (lần 1) + 1.000.000 đồng (lần 2) + 7.500.000 đồng (lần 2) + 5.000.000 đồng (lần 3) = 21.166.667 đồng. Số tiền thu lợi bất chính hướng đến là 130.000.000 đồng – 21.166.667 đồng = 108.833.333 đồng. (Số tiền thực tế D đã hưởng lợi là: 4.000.000 đồng – 666.666 đồng (lãi suất Nhà nước quy định) = 3.333.334 đồng).

  2. Nguyễn Mạnh H4:

    Tháng 8/2023, H4 vay 150.000.000 đồng, lãi suất 12%/tháng (lãi 18.000.000 đồng/tháng), D đồng ý tuy nhiên do thời điểm đó D không có tiền nên đã liên lạc với 01 người tên T ở quận B để vay 150.000.000 đồng với lãi suất 12%/tháng. T đưa 150.000.000 đồng cho D bằng tiền mặt, D đưa lại 150.000.000 đồng cho H4 bằng tiền mặt. Đến tháng 3/2024 H4 đã trả hết tiền gốc và lãi cho D. Như vậy, tính từ tháng 8/2023 đến tháng 3/2024, D đã cho H4 vay với lãi suất 12%/tháng (tương đương 144%/năm) là 18.000.000 đồng x 8 tháng = 144.000.000 đồng. Số tiền lãi Nhà nước quy định 20%/năm là 2.500.000 đồng x 8 tháng = 20.000.000 đồng. Số tiền đã thu lợi bất chính D đã hưởng lợi là 144.000.000 đồng – 20.000.000 đồng = 124.000.000 đồng.

  3. Nguyễn Chí H3:

    Ngày 08/12/2023, H3 vay 200.000.000 đồng sau đó vay thêm 100.000.000 đồng tổng cộng là 300.000.000 đồng lãi suất 10%/tháng (lãi 30.000.000 đồng/tháng). Ngày 08/01/2024, H3 tiếp tục mượn D thêm 100.000.000 đồng nhưng đóng tiền lãi 30.000.000 đồng nên D chỉ đưa cho H3 70.000.000 đồng. Tính đến ngày 08/01/2024, H3 đã vay của D tổng cộng 400.000.000 đồng lãi suất 10%/tháng (lãi 40.000.000 đồng/tháng). Đến tháng 4/2024, H3 chưa đóng trả lãi cho D và chưa trả tiền gốc cho D. Như vậy, D đã cho H3 vay lãi suất 10%/tháng (tương đương với 120%/năm). D đã thu lãi 30.000.000 đồng (lãi tháng 01/2024 của khoản vay 300.000.000 đồng). Số tiền lãi Nhà nước quy định là 20%/năm là 5.000.000 đồng/tháng. T1 lợi bất chính đã hưởng là: 30.000.000 đồng – 5.000.000 đồng = 25.000.000 đồng.

    Tính từ tháng 01/2024 đến 4/2024 là 03 tháng D đã cho H3 vay lãi suất 10%/tháng (tương đương với 120%/năm); Số tiền lãi D hướng đến là: 40.000.000 đồng x 3 tháng = 120.000.000 đồng. Số tiền Nhà nước quy định là 6.666.666,67 đồng x 3 tháng = 20.000.000 đồng. T1 lợi bất chính hướng đến là: 120.000.000 đồng – 20.000.000 đồng = 100.000.000 đồng.

    Ngoài ra, theo lời khai của D và H3 thì H3 còn vay tiền của D giùm cho Huỳnh Nguyễn Thanh T2 02 lần, cụ thể:

    Ngày 09/11/2023, T2 cần vay 500.000.000 đồng nhưng không dám nói với D nên T2 nhờ Nguyễn Chí H3 gặp D để vay giúp số tiền 500.000.000 đồng hình thức trả lãi đứng với lãi suất 01%/ngày (tương đương với 30%/tháng, tương đương với 360%/năm). Tính lãi bắt đầu từ ngày 10/11/2023 đến ngày 29/11/2023, H3 đóng lãi giúp T2 20 ngày là 100.000.000 đồng, T3 lãi Nhà nước quy định 20%/năm là 5.479.452 đồng; thu lợi bất chính đã hưởng là: 100.000.000 đồng -5.479.452 đồng = 94.520.458 đồng.

    Đến ngày 30/11/2023, H3 tiếp tục vay giúp T2 thêm 200.000.000 đồng. Tổng nợ tính đến ngày 30/11/2023 là 700.000.000 đồng (lãi là 6.400.000 đồng/ngày tương đương mức lãi suất 0.914%/ngày (27,42%/tháng). Sau đó T2 không đóng lãi, đi đâu không rõ nên D tính lãi từ ngày 30/11/2023 đến 08/4/2024 là 130 ngày, tổng tiền lãi hướng đến: 700.000.000 x 0.914% x 130 ngày = 831.740.000 đồng, T3 lãi Nhà nước quy định 20%/năm là 49.863.013 đồng; thu lợi bất chính: 832.000.000 đồng - 49.863.013 đồng = 782.136.987 đồng.

    Tuy nhiên, qua xác minh Huỳnh Nguyễn Thanh T2 đã bỏ đi khỏi địa phương, đi đâu không rõ nên chưa làm việc và thu thập được lời khai của T2. Chỉ có lời khai của H3 và D chưa có đủ căn cứ xác định việc H3 vay giùm T2 02 khoản vay trên với tổng số tiền 700.000.000 đồng của D.

    Qua trình điều tra, Đỗ Phan Đức D còn khai nhận đầu năm 2021, D đã vay giùm Lương Anh T4 tống số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất 8%/tháng và số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng từ T (không rõ lai lịch), sau đó D đã đóng lãi giúp T4 là 302.000.000 đồng. Tính đến tháng 12/2023 T4 còn nợ D tổng số tiền 452.000.000 đồng. Tuy nhiên, qua xác minh anh Lương Anh T4 đi đâu không rõ nên chưa làm việc được.

    Qua trình điều tra D khai: Đầu năm 2022, anh Phạm Ngọc H6 có vay của D số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 8%/tháng, chốt số nợ đến tháng 12/2022 là 58.000.000 đồng (gốc là 30.000.000 đồng và lãi suất là 28.000.000 đồng). Anh H6 đã trả lãi được 03 tháng là 7.200.000 đồng thì không trả được nữa; lãi suất Nhà nước quy định là 20%/năm x 3 tháng x 30.000.000 đồng = 500.000 đồng, thực tế D đã thu lợi 6.700.000 đồng. Sau đó, anh H6 đã trả được cho D tổng số tiền nợ gốc 30.000.000 đồng, nợ lãi chưa trả được. Số tiền thu lợi bất chính từ việc cho anh H6 vay tiền chưa đủ định lượng để xử lý hình sự.

    Như vậy từ tháng 02/2021 đến tháng 4/2024, D đã cho 03 khách vay tiền, tổng cộng số tiền cho vay là 1.320.000.000 đồng, thu lợi bất chính 1.234.490.868 đồng, lãi thực tế đã nhận 278.000.000 đồng.

Đối với Nguyễn Thị Thu H2:

Do những người vay tiền đều là những người H2 chơi thân, quen biết nhau từ trước, đều ở khu vực phường T, thành phố T nên biết H2. Khi mọi người vay tiền, H2 không trừ phí, không trừ trước, H2 đưa tiền gốc và nhận tiền lãi bằng tiền mặt hoặc qua số tài khoản mở tại Ngân hàng S số [...] do H2 đứng tên. Việc cho vay thỏa thuận bằng miệng, không lập biên bản, không thế chấp, không cầm cố tài sản. H2 chỉ cho vay dưới hình thức trả lãi đứng với lãi suất 10%/tháng. Khách không có tiền trả gốc thì trả lãi hàng tháng (theo lãi suất như trên) cho đến khi khách trả đủ tiền gốc thì kết thúc khoản vay. Nguyễn Thị Thu H2 đã cho 03 người vay tiền cụ thể:

  1. Đoàn Thanh M1 vay của H2 03 lần:

    Tháng 10/2021 (không xác định ngày), M1 vay 20.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng (lãi 2.000.000 đồng/tháng), không thỏa thuận ngày kết thúc. H2 đưa tiền vay cho M1 bằng tiền mặt. M1 đã đóng được 02 tháng tiền lãi tổng cộng là 4.000.000 đồng thì không có khả năng trả nên không trả nữa.

    Như vậy, H2 đã cho vay 20.000.000 đồng với lãi suất 10%/tháng (tương ứng với 120%/năm) tính đến thời điểm chốt tiền từ tháng 10/2021 đến tháng 06/2023 là 20 tháng x 2.000.000 đồng = 40.000.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước quy định 20%/năm là 6.666.660 đồng.

    Tháng 01/2022, M1 tiếp tục vay 30.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng (lãi 3.000.000 đồng/tháng). H2 đưa tiền vay cho M1 bằng tiền mặt. Tuy nhiên, M1 không có khả năng nên không trả nợ tiền lãi và tiền gốc.

    Như vậy, H2 cho vay với lãi suất 10%/tháng (tương ứng với 120%/năm) tính đến thời điểm chốt tiền từ tháng 01/2022 đến tháng 06/2023 là 18 tháng x 3.000.000 đồng = 54.000.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước quy định 20%/năm là 9.000.000 đồng.

    Đến tháng 04/2022, M1 tiếp tục vay 30.000.000 đồng với lãi suất 10%/tháng (lãi 3.000.000 đồng/1 tháng). H2 đưa tiền vay cho M1 bằng tiền mặt. Khoản vay này M1 cũng chưa trả cho H2. Như vậy, H2 cho vay với lãi suất 10%/tháng (tương ứng với 120%/năm) tính đến thời điểm chốt tiền từ tháng 04/2022 đến tháng 06/2023 là 14 tháng x 3.000.000 đồng = 42.000.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước quy định 20%/năm là 7.000.000 đồng.

    Đến ngày 28/6/2023, khi được D thông báo đã gặp được M1 nhưng vì M1 quen biết rất thân với H2 nên H2 đã nói cho D thu giúp H2 số tiền đã chốt (lãi và gốc) 200.000.000 đồng của M1 vay nợ H2 như nêu trên; mục đích để M1 có trách nhiệm trả nợ hơn. Việc H2 nhờ D thu nợ hộ không thỏa thuận việc hưởng lợi cho D. Vì vậy, tổng số tiền lãi H2 hướng đến là 40.000.000 đồng (lần 1) + 54.000.000 đồng (lần 2) + 42.000.000 đồng (lần 3) = 136.000.000 đồng. Cộng thêm tiền vốn 80.000.000 đồng tổng là 216.000.000 đồng nhưng do biết M1 không có tiền nên giảm tiền xuống để cho tròn 200.000.000 đồng không tính lãi nữa, H2 thu lãi là 120.000.000 đồng. Do đó tổng thu lợi bất chính là 120.000.000 đồng - 6.666.660 đồng (lần 1) - 9.000.000 đồng (lần 2) – 7.000.000 đồng (lần 3) = 97.333.340 đồng. Trong đó, H2 đã hưởng lợi 4.000.000 đồng - 666.666 đồng = 3.333.334 đồng.

  2. Nguyễn Công D1:

    Tháng 08/2023, D1 vay 9.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng (lãi 900.000 đồng/tháng). H2 đưa tiền vay cho D1 bằng tiền mặt. D1 đã đóng tổng cộng 6.300.000 đồng (07 tháng) tiền lãi đến tháng 3/2024 không có khả năng trả nữa nên gặp H2 xin không trả lãi mà chỉ trả tiền gốc, H2 đồng ý cho trả tiền gốc nhưng D1 chưa trả được một khoản tiền gốc nào hết. Như vậy, D1 đã trả tiền lãi 07 tháng là 6.300.000 đồng. Đối với khoản vay này H2 cho vay với lãi suất 10%/tháng (tương đương 120%/năm). Tiền lãi hưởng lợi là 6.300.000 đồng. Tiền lãi Nhà nước quy định 20%/năm là 1.050.000 đồng. T1 lợi bất chính đã hưởng là: 6.300.000 đồng – 1.050.000 đồng = 5.250.000 đồng.

  3. Nguyễn Thị Thu H5 vay 02 lần:

    Lần thứ 1: Ngày 08/02/2023, H5 vay 20.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng (lãi 2.000.000 đồng/tháng). H2 đưa tiền mặt cho H5. H5 đã trả lãi hàng tháng cho H2 bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của H2 được 05 tháng là 10.000.000 đồng.

    Lần thứ 2: Ngày 15/03/2023, H5 tiếp tục vay thêm 10.000.000 đồng lãi suất 10%/tháng (1.000.000 đồng/tháng). H5 đã trả lãi hàng tháng cho H2 bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của H2 được 04 tháng là 4.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến tháng 07/2023, H5 không còn khả năng trả lãi của 02 lần vay trên nên có gặp H2 xin không trả lãi mà chỉ trả gốc là 30.000.000 đồng. H2 đồng ý không tính lãi nữa mà chỉ để tiền gốc cho H5 trả.

    Tháng 01/2024, H2 có điện thoại hỏi về số tiền của 02 khoản vay trên; H5 đã trả cho H2 1.000.000 đồng tiền mặt và 1.000.000 đồng chuyển khoản. Đến nay H5 chưa trả tiền gốc H2 và còn nợ số tiền 28.000.000 đồng tiền gốc.

    Đối với lần thứ 1: H5 đã trả lãi được 05 tháng là 10.000.000 đồng; Tiền lãi Nhà nước quy định 20%/năm là 1.666.665 đồng. T1 lợi bất chính đã hưởng là: 10.000.000 đồng – 1.666.665 đồng = 8.333.335 đồng.

    Đối với lần thứ 2: H5 đã trả lãi được 04 tháng là 4.000.000 đồng; Tiền lãi Nhà nước quy định 20%/năm là 666.668 đồng. T1 lợi bất chính đã hưởng là: 4.000.000 đồng – 666.668 đồng = 3.333.332 đồng.

Như vậy từ tháng 10/2021 đến tháng 01/2024, H2 đã cho vay tổng cộng 119.000.000 đồng, thu lợi bất chính 144.250.007 đồng, lãi thực tế đã nhận 24.300.000 đồng.

Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu đen; 01 điện thoại di động Iphone 12 Mini màu tím (của D); 01 điện thoại di động Iphone 6S màu xám (của H2); 70.000.000 đồng của D và H2.

Đối với hành vi sử dụng chất ma túy D khai nhận trước đó khoảng 04 ngày thì D đi sinh nhật 01 người bạn (không rõ lai lịch) tại 01 quán Bar (không rõ địa chỉ), trong lúc sinh nhật D nghi ngờ có người bỏ chất ma túy vào nước uống của D. Bản thân D không sử dụng ma túy.

Về trách nhiệm dân sự:

  • Người vay tiền anh Đoàn Thanh M1, Nguyễn Chí H3 không yêu cầu bồi thường dân sự.
  • D đã nộp 50.000.000 đồng, H2 nộp 20.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả.

Cáo trạng số 557/CT-VKS ngày 13/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đỗ Phan Đức D, Nguyễn Thị Thu H2 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Đỗ Phan Đức D, Nguyễn Thị Thu H2 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo. Đối với bị cáo D: Bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên; thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; nhân thân xấu; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả; bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải chăm sóc, nuôi dưỡng cha già yếu quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Đối với bị cáo H2: Bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả; bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ; bản thân bị cáo là người đang bị bệnh U tuyến giáp (mới phẫu thuật); bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ già. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Do đó, đề nghị xử phạt bị cáo D mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù; áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo H2 từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng; Xử lý vật chứng: tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu đen; 01 điện thoại di động Iphone 12 Mini màu tím (của D); 01 điện thoại di động Iphone 6S màu xám (của H2); Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý tiền thu lợi bất chính của các bị cáo và tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội theo quy định của pháp luật. Ghi nhận việc chị Nguyễn Thị Thu H5, anh Đoàn Thanh M1 không yêu cầu bị cáo H2 trả lại số tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo H2 đã thu của chị H5, anh M1; Ghi nhận việc anh Đoàn Thanh M1 không yêu cầu bị cáo D phải trả lại số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Duy thực T5 đã thu của anh M1; Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định.

- Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo D đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội phụng dưỡng cha bị cáo hiện nay đã lớn tuổi, sức khỏe yếu, bị cáo là con trai duy nhất. Bị cáo H2 để nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được thi hành hình phạt tiền vì hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang trực tiếp nuôi dưỡng mẹ bị cáo đã già yếu, bản thân bị cáo sức khỏe không tốt, thường xuyên phải tái khám theo dõi bệnh U tuyến giáp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thu H5 trình bày: Do cần tiền để lo việc gia đình nên chị đã vay của chị H2 số tiền như nội dung Cáo trạng đã nêu, việc vay tiền là tự nguyện. Chị tự nguyện không yêu cầu bị cáo H2 phải trả lãi chị số tiền lãi vượt quá mức lãi suất quy định, chị H5 không có yêu cầu gì trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Những người có quyền, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Chí H3, anh Nguyễn Công D1, anh Đoàn Thanh M1, anh Nguyễn Mạnh H4 vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc vắng mặt của những người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và quyền lợi của họ nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên vắng mặt những người có quyền, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Phan Đức D, Nguyễn Thị Thu H2 trong quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các vật chứng thu giữ cũng như các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận:

Từ tháng 02/2021 đến tháng 4/2024, Đỗ Phan Đức D đã sử dụng tiền cá nhân trực tiếp cho vay, thu tiền gốc, lãi của 03 khách vay tiền với lãi suất từ 120%/năm - 360%/năm (gấp từ 6 lần đến 18 lần so với lãi suất quy định trong Bộ luật Dân sự) trên địa bàn thành phố T để thu lợi bất chính tổng cộng: 1.234.490.868 đồng; tiền lãi thực tế đã nhận 278.000.000 đồng.

Từ tháng 10/2021 đến tháng 01/2024, Nguyễn Thị Thu H2 đã sử dụng tiền cá nhân trực tiếp cho vay, thu tiền gốc, lãi của 03 khách vay tiền với lãi suất 120%/năm (gấp 6 lần so với lãi suất quy định trong Bộ luật Dân sự) trên địa bàn thành phố T để thu lợi bất chính tổng cộng: 114.250.007 đồng; tiền lãi thực tế đã nhận 24.300.000 đồng.

Hành vi trên của Đỗ Phan Đức D, Nguyễn Thị Thu H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Đánh giá tính chất vụ án:

Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của các bị cáo D, H2 thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm lợi ích hợp pháp của công dân và gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo biết việc cho vay lãi nặng là trái pháp luật, là gây thiệt hại cho người vay bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng chỉ vì động cơ tư lợi muốn kiếm tiền nhanh mà không phải thông qua lao động chân chính, các bị cáo đã lợi dụng những người đi vay tiền đang gặp hoàn cảnh khó khăn cần tiền (mặc dù người đi vay là tự nguyện, không bị các bị cáo ép buộc vay) để cho vay với mức lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (thực tế bị cáo cho vay mức lãi suất 30%/tháng tương đương 360%/năm). Các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo rất kém. Với hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, xét thấy cần phải có một hình phạt thật nghiêm khắc đối với các bị cáo, để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, cũng xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo:

Đối với bị cáo D: Bị cáo D là người có nhân thân xấu; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả, cha bị cáo đã già yếu cần người chăm sóc quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo H2: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khắc phục một phần hậu quả; bị cáo là lao động chính trong gia đình đang phụng dưỡng mẹ già (có xác nhận của chính quyền địa phương); bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng (đã hy sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp, có bằng Tổ quốc ghi công do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 09/02/1979); Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên, với thời gian bị cáo H2 bị tạm giữ, tạm giam cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và từ khi Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát cho bị cáo được tại ngoại đến nay bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định tại địa phương, không có biểu hiện vi phạm pháp luật mới, có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Bị cáo chứng minh được khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tiền cũng tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Phan Đức D số tiền 60.000.000 đồng.

Đối với đối tượng Huỳnh Nguyễn Thanh T2, bị cáo D và anh H3 có lời khai: Anh H3 được T2 nhờ vay tiền giùm từ bị cáo D nhưng chỉ có lời khai của anh H3 và bị cáo D thì chưa đủ căn cứ xác định được T2 nhờ H3 vay tiền giùm. Thực tế anh H3 là người nhận tiền vay từ D và có đóng tiền lãi cho D nên có căn cứ xác định bị cáo D cho anh H3 vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với số tiền 700.000.000 đồng trong vụ án này. Căn cứ kết quả xác minh của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T thì chị T2 đã đi khỏi địa phương, đi đâu không rõ. Do đó, anh H3 cho rằng anh H3 vay tiền giùm T2 thì anh H3 có quyền khởi kiện T2 bằng vụ án dân sự khác khi đương sự có yêu cầu. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra xác minh thông tin về đối tượng Huỳnh Nguyễn Thanh T2, có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định.

Đối với đối tượng Lương Anh T4, bị cáo D khai nhận vay tiền giùm từ T4 từ đối tượng tên T (không rõ lai lịch) nhưng ngoài lời khai của D thì chưa đủ căn cứ xác định được bị cáo D đi vay tiền giùm cho T4, trả lãi giùm T4. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T, anh Lương Anh T4 đã đi khỏi địa phương, đi đâu không rõ nên chưa có đủ căn cứ xem xét hành vi cho vay giữa bị cáo D và đối tượng Lương Anh T4 trong vụ án này. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra, xác minh đối tượng Lương Anh T4, có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định.

Đối với hành vi bị cáo D cho anh Phạm Ngọc H6 vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 8%/tháng, số tiền thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng nên chưa đủ định lượng để xử lý hình sự nên Tòa án không triệu tập anh H6 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của D, Công an phường T đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và D đã nộp phạt xong ngày 19/4/2024.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Vật chứng vụ án:

  • 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu đen; 01 điện thoại di động Iphone 12 Mini màu tím (của D); 01 điện thoại di động Iphone 6S màu xám (của H2). Đây là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp vào Ngân sách Nhà nước.

[7] Các vấn đề khác:

  • Đối với số tiền gốc 1.320.000.000 đồng bị cáo D đã sử dụng để cho vay lãi nặng là phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Thực tế, anh Đoàn Thanh M1 chưa trả cho bị cáo D số tiền nợ gốc 80.000.000 đồng; anh Nguyễn Mạnh H4 đã trả cho bị cáo D số tiền nợ gốc 150.000.000 đồng; anh Nguyễn Chí H3 chưa trả cho bị cáo D tổng số tiền nợ gốc 1.100.000.000 đồng. Do đó, căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự, buộc:
  • Anh Đoàn Thanh M1 phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 80.000.000 đồng;

    Anh Nguyễn Chí H3 phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.100.000.000 đồng;

    Bị cáo D phải nộp số tiền 150.000.000 đồng gốc cho anh M2 vay và toàn bộ số tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay đối với anh Nguyễn Mạnh H4 là 20.000.000 đồng và anh Nguyễn Chí H3 là: 5.000.000 đồng + 5.479.452 đồng = 10.479.452 và anh Đoàn Thanh M1 là 21.166.667 đồng. Tổng cộng bị cáo D phải nộp vào ngân sách Nhà nước là 201.646.119 đồng.

  • Đối với số tiền gốc 119.000.000 đồng bị cáo H2 đã sử dụng để cho vay lãi nặng là phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Thực tế, anh Đoàn Thanh M1 chưa trả cho bị cáo H2 số tiền nợ gốc 80.000.000 đồng. anh Nguyễn Công D1 chưa trả cho bị cáo H2 số tiền nợ gốc 9.000.000 đồng; Chị Nguyễn Thị Thu H5 đã trả cho bị cáo H2 số tiền 2.000.000 đồng, còn 28.000.000 đồng chưa trả. Do đó, căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự, buộc:
  • Đối với khoản vay liên quan đến bị cáo H2:

    Anh Đoàn Thanh M1 phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 80.000.000 đồng;

    Anh Nguyễn Công D1 phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 9.000.000 đồng;

    Chị Nguyễn Thị Thu H5 phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 28.000.000 đồng;

    Bị cáo H2 phải nộp số tiền gốc 2.000.000 đồng và toàn bộ số tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay đối với anh Đoàn Thanh M1 là 666.666 đồng; anh Nguyễn Công D1 là 1.050.000 đồng và chị Nguyễn Thị Thu H5 là: 1.666.665 đồng. Tổng cộng bị cáo H2 phải nộp vào ngân sách Nhà nước là 5.383.331 đồng.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

  • Bị cáo D phải trả lại cho anh Nguyễn Mạnh H4 tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Duy thực T5 đã thu là 124.000.000 đồng;
  • Bị cáo D phải trả lại cho anh Nguyễn Chí H3 tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Duy thực T5 đã thu là 25.000.000 đồng + 94.520.548 đồng = 119.520.548 đồng;

  • Anh Đoàn Thanh M1 không yêu cầu bị cáo D phải trả khoản tiền lãi vượt mức quy định mà anh M1 đã đóng cho bị cáo D nên Hội đồng xét xử ghi nhận (bút lục 124);
  • Bị cáo H2 phải trả lại cho anh Nguyễn Công D1 tiền thu lợi bất chính mà bị cáo H2 thực tế đã thu là 5.250.000 đồng;

  • Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Thu H5 không yêu cầu bị cáo H2 phải trả khoản tiền lãi vượt mức quy định mà chị H5 đã đóng cho bị cáo H2 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • Anh Đoàn Thanh M1 không yêu cầu bị cáo không yêu cầu bị cáo H2 phải trả khoản tiền lãi vượt mức quy định mà anh M1 đã đóng cho bị cáo Hà D2 nên Hội đồng xét xử ghi nhận (bút lục 122);

[9] Về án phí hình sự: Bị cáo Đỗ Phan Đức D, Nguyễn Thị Thu H2 phải nộp 200.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • Bị cáo D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 5% trên số tiền 119.520.548 đồng + 124.000.000 đồng = 243.520.540 đồng là 12.176.047 đồng;
  • Bị cáo H2 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 5.250.000 đồng là 300.000 đồng quy định tại điểm a mục 1.2 Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Phan Đức D, Nguyễn Thị Thu H2 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 201, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
    • - Xử phạt bị cáo Đỗ Phan Đức D 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2024.
    • Hình phạt bổ sung:
    • Buộc bị cáo Đỗ Phan Đức D nộp phạt số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng vào ngân sách Nhà nước.
  3. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 201, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng;
  4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021.
    • - Buộc bị cáo Đỗ Phan Đức D nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 201.646.119 đồng và được trừ vào số tiền 50.000.000 đồng bị cáo đã tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0015777 ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức. Bị cáo D còn phải nộp số tiền 151.646.119 đồng.
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.383.331 đồng và được trừ vào số tiền 20.000.000 đồng bị cáo đã tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0015777 ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức. Số tiền còn lại 14.616.669 đồng tiếp tục được trừ vào khoản tiền nộp phạt của bị cáo H2.
    • Anh Đoàn Thanh M1 phải nộp vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền 160.000.000 đồng;
    • Anh Nguyễn Chí H3 phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.100.000.000 đồng;
    • Anh Nguyễn Công D1 phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 9.000.000 đồng;
    • Chị Nguyễn Thị Thu H5 phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 28.000.000 đồng;
    • - Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu đen; 01 điện thoại di động Iphone 12 Mini màu tím; 01 điện thoại di động Iphone 6S màu xám.
    • (Quyết định chuyển vật chứng số 327/QĐ-VKS ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho ngày 14/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức).

  5. Về trách nhiệm dân sự:
    • Ghi nhận anh Đoàn Thanh M1 không yêu cầu bị cáo D, bị cáo H2 trả lại số tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo D, H2 đã thu của anh M1.
    • Ghi nhận chị Nguyễn Thị Thu H5 không yêu cầu bị cáo H2 trả lại số tiền thu lợi bất chính mà thực tế bị cáo H2 đã thu của chị H5.
    • Bị cáo D phải trả lại cho anh Nguyễn Mạnh H4 tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Duy thực T5 đã thu là 124.000.000 đồng;
    • Bị cáo D phải trả lại cho anh Nguyễn Chí H3 tổng số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Duy thực T5 đã thu là 119.520.548 đồng;
    • Bị cáo H2 phải trả lại cho anh Nguyễn Công D1 tiền thu lợi bất chính mà bị cáo H2 thực tế đã thu là 5.250.000 đồng;
    • Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  6. Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
    • Buộc bị cáo Đỗ Phan Đức D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 12.176.047 đồng.
    • Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
  7. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:

    Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 623/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 623/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạt tù; phạt tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger