Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 623/2024/HC-PT Ngày: 24 - 6 - 2024 “V/v Khiếu kiện yêu cầu hủy thông báo thu hồi đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh

Các Thẩm phán: Ông Phan Nhựt Bình

Bà Hồ Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 31/2024/TLPT-HC ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Khiếu kiện yêu cầu hủy thông báo thu hồi đất”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 157/2023/HC-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 652/2024/HC-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Hoàng Xuân T, sinh năm 1965, địa chỉ thường trú Khu phố E, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1985, địa chỉ thường trú số A L, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (có mặt)

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Địa chỉ số D đường C, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quang H1, chức vụ: Chủ tịch.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê Quốc T1, chức vụ: Phó chủ tịch (đơn xin xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Quang L, chức vụ:

Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P (có mặt)

- Người kháng cáo: Ủy ban nhân dân thành phố P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đơn khởi kiện của ông Hoàng Xuân T trình bày:

Ông Hoàng Xuân T là người trực tiếp sử dụng diện tích đất 2.382,2m², đất tọa lạc tại ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, đất có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn Đ, đất này do ông Đ khai khẩn sử dụng từ năm 1986. Sau khi nhận chuyển nhượng ông T tiếp tục sử dụng ổn định, không tranh chấp.

Ngày 16/01/2020 Ủy ban nhân dân (UBND) huyện (nay là thành phố) Phú Quốc ra Thông báo số 64/TB-UBND về việc thu hồi đất đối với ông Hoàng Xuân T diện tích 2.382,2m², loại đất trồng cây lâu năm, để thực hiện dự án Khu B tại xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Quá trình thực hiện trình tự, thủ tục liên quan đến dự án trên, cơ quan chuyên môn đã đo đạc, kiểm đếm, điều tra, khảo sát đối với thửa đất, tổ chức họp lấy ý kiến dân cư, gặp gỡ trực tiếp trao đổi liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư..., nhưng còn nhiều vấn đề không được các bên thống nhất, dẫn đến việc UBND thành phố P chưa thực hiện được thủ tục tiếp theo để quyết định thu hồi đất, tính đến thời điểm hiện nay đã quá 03 năm kể từ ngày có thông báo thu hồi đất, điều này đã gây ảnh hưởng đến các quyền sử dụng đất của ông T.

Thông báo thu hồi đất, căn cứ Kế hoạch sử dụng đất năm 2019 của UBND thành phố P, được UBND tỉnh K phê duyệt tại Quyết định số 646/QĐ-UBND ngày 22/3/2019 và căn cứ tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án Khu biệt thự DETACO Phú Quốc tại xã D (theo báo cáo ngày 05/8/2019/CV-DTC ngày 20/8/2019 của Công ty Cổ phần Đ1 - chủ đầu tư của dự án được UBND tỉnh K chấp thuận chủ trương). Tiến độ chủ đầu tư đăng ký thực hiện dự án từ năm 1017 đến năm 2022, nhưng trên thực tế hiện nay công ty chưa có bất cứ hoạt động nào trên diện tích đất được quy hoạch dự án, điều này được Thanh tra Chính phủ nêu tại Kết luận thanh tra số 602/KL-TTr ngày 27/4/2020, là một dự án chậm triển khai bị đề nghị xem xét thu hồi.

Ông Hoàng Xuân T cho rằng, việc thực hiện trình tự, thủ tục liên quan đến việc thu hồi đất để thực hiện dự án của UBND thành phố P vi phạm quy định khoản 3 Điều 49, khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai năm 2013 và điểm b khoản 1 Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Ông Hoàng Xuân T khởi kiện yêu cầu hủy Thông báo số 64/TB-UBND ngày 16/01/2020 của UBND thành phố P về việc thông báo thu hồi đất diện tích 2.382,2m² đối với ông Hoàng Xuân T.

Văn bản số 1406/UBND-NCPC ngày 23 tháng 8 năm 2023, người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày:

Ngày 08/03/2012, Ban Q (nay là Ban Q) ban hành Quyết định số 24/QĐ-BQLPTPQ về việc phê duyệt Đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 khu biệt thự DETACO Phú Quốc thuộc khu F (nay là khu G), khu phức hợp B tại xã D, huyện (nay là thành phố) P, tỉnh Kiên Giang, quy mô 88.738m².

Ngày 18/12/2017, UBND tỉnh K ban hành Quyết định số 2752/QĐ-UBND về việc Chấp thuận đầu tư khu biệt thự DETACO P tại xã D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 16/01/2020, UBND thành phố P ban hành Kế hoạch số 26/KH-UBND về việc thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm phục vụ công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án Khu biệt thự DETACO Phú Quốc. Cùng ngày ban hành Thông báo thu hồi đất số 64/TB-UBND để thực hiện dự án, diện tích đất dự kiến thu hồi diện tích đất 2.382,2m² tại ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, ông Hoàng Xuân T đã nhận thông báo thu hồi đất (kèm theo biên bản triển khai thông báo thu hồi đất).

Ngày 12/02/2020, UBND xã D tiến hành niêm yết các Thông báo thu hồi đất, trong đó có hộ ông Hoàng Xuân T tại Trụ sở UBND xã D và Trụ sở Ban N (Kèm theo Biên bản niêm yết).

Ngày 20/02/2020, UBND xã D ban hành Thông báo số 23/TB-UBND về việc thông báo thời gian lịch phát thanh bản tin về việc thu hồi đất (trong đó có Thông báo thu hồi đất của ông Hoàng Xuân T).

Ngày 20/03/2020, Ban Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phối hợp UBND xã D và các cơ quan chuyên môn liên quan tiến hành đo đạc, điều tra, khảo sát, kiểm đếm cây trồng, vật kiến trúc, trong đó có hộ ông Hoàng Xuân T, ông T có kê khai và ký vào biên bản đo đạc, điều tra, khảo sát, kiểm đếm cây trồng, vật kiến trúc trên diện tích đất 2.382,1m² (kèm theo biên bản kê khai).

Ngày 28/7/2020, UBND huyện (nay là thành phố) Phú Quốc ban hành Thông báo số 639/TB-UBND về việc Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, nếu các hộ gia đình và cá nhân không có thông tin thay đổi về nội dung các thông báo niêm yết thì UBND huyện P giao Ban bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố phối hợp với các phòng ban chuyên môn tiến hành đo đạc, kiểm kê đất đai, cây trồng, vật kiến trúc theo thông tin đã niêm yết; lập và hoàn chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo đúng quy định pháp luật (trong đó có hộ ông Hoàng Xuân T).

Việc ông Hoàng Xuân T khởi kiện yêu cầu hủy Thông báo thu hồi đất số 64/TB-UBND ngày 16/01/2020 của UBND thành phố P là chưa đúng quy định pháp luật, vì hiện nay UBND thành phố Phú Quốc đang lập và thực hiện các thủ để lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Hoàng Xuân T theo quy định pháp luật.

Mặt khác, qua kiểm tra hồ sơ tài liệu liên quan và đơn khởi kiện đề ngày 16/3/2023 của ông Hoàng Xuân T xét thấy ông T đã nhận thông báo thu hồi đất, đồng thời UBND xã D cùng các cơ quan chuyên môn liên quan tiến hành niêm yết Thông báo thu hồi đất trên và phát thông tin rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng về việc thông báo thu hồi đất đối với ông Hoàng Xuân T (kèm theo

biên bản niêm yết ngày 12/02/2020 và Thông báo số 23/TB-UBND ngày 20/02/2020 của UBND xã D). Do đó xét về Thông báo thu hồi đất đối với ông Hoàng Xuân T là quá thời hạn 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính là hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 và điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đề nghị đình chỉ giải quyết vụ án.

* Tại phiên tòa:

- Ông Trần Quang L là người là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện cho rằng: Ông T khởi kiện yêu cầu hủy thông báo thu hồi đất đã quá một năm, hết thời hiệu khởi kiện. Còn việc chậm ra quyết định thu hồi đất thì kiện về hành vi khác. Đối với thông báo thu hồi đất kể từ ngày ban hành cho đến nay đã quá 03 năm chưa ra quyết định thu hồi đất là do chưa thực hiện xong quyết định phê duyệt phương án bồi thường, trong đó có quyết định về giá đất cụ thể của dự án, do quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án phải ban hành cùng một ngày nên mới kéo dài.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 157/2023/HC-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

  • - Căn cứ các Điều 30, 32, 116, 158, 164, 193, 194 của Luật Tố tụng hành chính;
  • - Căn cứ Điều 49 Luật Đất đai năm 2013;
  • - Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
  • - Căn cứ Điều 32 của Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Xuân T.

Hủy Thông báo thu hồi đất số 64/TB-UBND ngày 16 tháng 01 năm 2020 của Ủy ban nhân dân thành phố P đối với ông Hoàng Xuân T để thực hiện Dự án Khu biệt thự DETACO Phú Quốc tại xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 10/10/2023, người bị kiện - Ủy ban nhân dân thành phố P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị hủy toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án vì Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết chưa phù hợp và thông báo thu hồi đất chưa ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hoàng Xuân T.

Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử

không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Về việc chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
  • - Về nội dung: Thông báo thu hồi đất không phải đối tượng khởi kiện vì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thu hồi đất. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 241 Luật tố tụng hành chính chấp nhận kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố P hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của người bị kiện được làm đúng thời hạn, hình thức nội dung đảm bảo theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện vắng mặt có người đại diện theo ủy quyền, người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng Hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt theo quy định.

[2] Xét kháng cáo của người bị kiện - Ủy ban nhân dân Thành phố P, Hội đồng xét xử nhận định:

Ngày 16 tháng 01 năm 2020, Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Thông báo số 64/TB-UBND về việc thu hồi đất đối với diện tích 2.382,2 m² của ông Hoàng Xuân T, loại đất trồng cây lâu năm, để thực hiện Dự án Khu biệt thự DETACO Phú Quốc tại xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Hiện nay Ủy ban nhân dân thành phố P đang lập và thực hiện các thủ tục về phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Hoàng Xuân T theo quy định pháp luật

Theo quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai năm 2013 thì: “Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm”. Mặt khác, theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 17 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai thì thông báo thu hồi đất chỉ là một trong những trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật để thực hiện thu hồi đất.

Đồng thời theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính thì:

“1. Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

2. Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức cá nhân”.

Ủy ban nhân dân thành phố P chỉ mới thông báo thu hồi đất, chưa có quyết định thu hồi đất đối với ông Hoàng Xuân T. Thông báo thu hồi đất số 64/TB-UBND, ngày 16/01/2020 chưa làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của ông Hoàng Xuân T nên không phải đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Vì vậy, ông Hoàng Xuân T không có quyền khởi kiện đối với thông báo này. Toà án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là không đúng theo quy định pháp luật, nên cần huỷ án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án.

[3] Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Hoàn trả cho ông Hoàng Xuân T án phí hành chính sơ thẩm, Ủy ban nhân dân thành phố P không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;

Tuyên xử:

1. Huỷ bản án hành chính sơ thẩm số: 157/2023/HC-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc “Khiếu kiện yêu cầu hủy thông báo thu hồi đất” và Đình chỉ việc giải quyết vụ án.

2. Về án phí:

2.1 Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Hoàng Xuân T không phải chịu. H2 lại cho ông Hoàng Xuân T 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008678 ngày 05/4/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

2.2 Án phí hành chính phúc thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố P không phải chịu. H2 lại cho Ủy ban nhân dân thành phố P 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004522 ngày 17/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP. HCM;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang;
  • - ĐS (8);
  • - Lưu VP (3), HS (2).23b.TTPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 623/2024/HC-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện yêu cầu hủy thông báo thu hồi đất

  • Số bản án: 623/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện yêu cầu hủy thông báo thu hồi đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Hoàng Xuân T kiện Ủy ban nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang “Khiếu kiện yêu cầu hủy thông báo thu hồi đất”. Tuyên xử Huỷ bản án hành chính sơ thẩm số: 157/2023/HC-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc “Khiếu kiện yêu cầu hủy thông báo thu hồi đất” và Đình chỉ việc giải quyết vụ án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger