|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 622/2024/HS-ST Ngày: 10-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Phòng
- Ông Nguyễn Hồng Phúc – Nơi công tác: Phòng giáo dục thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Lê Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 600/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 667/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thái K; sinh ngày 01/01/2006; Nơi sinh: tỉnh Cà Mau; Nơi thường trú: Ấp K, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; Nơi tạm trú: Không; Nơi ở hiện tại: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Con ông Nguyễn Ngọc G, sinh năm: 1980 và bà Nguyễn Thị O, sinh năm: 1985; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/8/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Nguyễn Cát T, sinh ngày: 09/02/2009, địa chỉ thường trú: Thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; C ở: 119 Đường D, phường B, thành phố T, TP ..
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Tấn T1 (cha bị hại) và bà Nguyễn Thị Kiều O, địa chỉ: Thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; vắng mặt.
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Xuân L, sinh năm: 1983, địa chỉ: G T, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Đức Bảo P, địa chỉ: G T, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thị O, sinh năm: 1985, địa chỉ: Ấp K, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thái K và Nguyễn Cát T (sinh ngày 09/02/2009) là đồng nghiệp cùng làm bảo vệ tại Bệnh viện L1, số A đường L, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 04/8/2024, anh T vào trong phòng cấp cứu gặp K nhờ đổi ca trực. K đồng ý ra ngoài cổng chính đứng gác, còn T vào trong phòng cấp cứu ngủ. Đến 00 giờ 40 phút ngày 04/8/2024, K về lại phòng cấp cứu thì thấy anh T đang nằm ngủ trên giường. Ở đầu giường có đặt một điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đen nên nảy sinh ý định chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Kiệt tiến lại gần, lấy điện thoại bỏ vào túi quần bên phải, rồi quay lại cổng chính tiếp tục gác. Đến khoảng 01 giờ 30 phút, T thức dậy tìm không thấy điện thoại nên đi ra cổng hỏi K thấy điện thoại của T ở đâu không thì K trả lời là không biết. Cả hai nói chuyện một lúc thì K đổi lại ca gác và đi về phòng cấp cứu ngủ. Đến 06 giờ 00 phút, khi hết ca trực, K vào phòng ngủ của Bệnh viện N. Tại đây, K tháo sim điện thoại vứt tại bên hông phòng ngủ, tắt nguồn điện thoại rồi bỏ vào tủ đồ cá nhân.
Đến 17 giờ 28 phút cùng ngày, K đặt một xe ôm công nghệ G1, di chuyển từ Bệnh viện L1 đến Cầu vượt Công viên phần mềm Q, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm nơi bán điện thoại. Khi đến cửa hàng Đ, địa chỉ: Số F đường Q, Khu phố H, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Nguyễn Xuân L (sinh năm 1983) làm chủ. Tại đây, K gặp anh Nguyễn Đức Bảo P (sinh năm 2004) là con của ông L đang đứng tại quầy và hỏi bán điện thoại. Anh P yêu cầu K đăng xuất Icloud. Do trước đây T từng nhờ K cài đặt giúp Icloud trên điện thoại nên K nhớ mật khẩu và biết cách đăng xuất Icloud. Thấy K đăng xuất được I nên P đồng ý mua với giá 8.000.000 đồng. Kiệt mua lại của anh P 01 điện thoại Iphone SE để sử dụng với giá 3.500.000 đồng và nhận thêm 4.500.000 đồng tiền mặt từ P. Sau đó, K bắt xe ôm về lại Bệnh viện L1. K đã gửi về cho mẹ đẻ số tiền 1.800.000 đồng và số tiền còn lại K đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 05/08/2024, anh T xem lại bản ghi camera tại Bệnh viện L1 thì thấy Nguyễn Thái K đã chiếm đoạt điện thoại của mình nên đến Công an phường B trình báo.
3
Kết luận định giá tài sản số 73-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh đen, dung lượng 128Gb nêu trên trị giá 10.500.000 đồng (BL 18).
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T ra Lệnh bắt bị can để tạm giam số 2545/LB-ĐTTH đối với Nguyễn Thái K. Tại Cơ quan Điều tra, Nguyễn Thái K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh đen, dung lượng 128GB, số IMEI 355591193769741. Ngày 27/10/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T đã tiến hành trả lại cái điện thoại nêu trên cho anh Nguyễn Cát T (BL 15, 16).
- - 01 (một) USB chứa đoạn camera ghi nhận hình ảnh Nguyễn Thái K thực hiện hành vi lấy trộm điện thoại di động;
- - 01 (một) USB chứa đoạn camera ghi nhận hình ảnh Nguyễn Thái K thực hiện hành vi bán điện thoại di động;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE, số IMEI 356779117240779, mặt lưng màu trắng, đã qua sử dụng;
- - 1.800.000 đồng tiền mặt.
- - 01 (một) áo sơ mi màu xanh trên áo có in hình logo CT.DVBV- P;
- - 01 (một) quần vải màu đen không có nhãn hiệu;
- - 01 (một) đôi dép màu trắng không nhãn hiệu;
- - 01 (một) quần jean ngắn màu xám đen; (01) một áo màu đen ngực trái có thêu chữ THE NORTH FACE màu trắng, ngực phải có thêu chữ GS và kí hiệu tiếng nước ngoài màu trắng.
Trách nhiệm dân sự:
Anh Nguyễn Cát T đã nhận lại điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax của mình và không yêu cầu gì thêm (BL 72).
Anh Nguyễn Xuân L không có yêu cầu bồi thường gì (BL 77).
Cáo trạng số 549/CT-VKSTPTĐ ngày 11/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Thái K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái K phạm tội
4
“Trộm cắp tài sản”. Về mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thái K từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Anh T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét; Vật chứng vụ án: lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) USB chứa đoạn camera ghi nhận hình ảnh Nguyễn Thái K thực hiện hành vi lấy trộm điện thoại di động; 01 (một) USB chứa đoạn camera ghi nhận hình ảnh Nguyễn Thái K thực hiện hành vi bán điện thoại di động; Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE, số IMEI 356779117240779, mặt lưng màu trắng, đã qua sử dụng và số tiền 1.800.000 đồng; 01 (một) áo sơ mi màu xanh trên áo có in hình logo CT.DVBV- P, 01 (một) quần vải màu đen không có nhãn hiệu, 01 (một) đôi dép màu trắng không nhãn hiệu, 01 (một) quần jean ngắn màu xám đen; (01) một áo màu đen ngực trái có thêu chữ THE NORTH FACE màu trắng, ngực phải có thêu chữ GS và kí hiệu tiếng nước ngoài màu trắng, đây là đồ dùng cá nhân của bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Bị hại và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc vắng mặt của bị hại, những người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và quyền lợi của họ nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên vắng mặt các bị hại, những người có quyền, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Xét, quá trình tố tụng, bị cáo Nguyễn Thái K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo đều thống nhất với nhau trong các Bản tự khai, Bản tường trình; Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung bị can và phù hợp với: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 05/8/2024 của Công an phường B, thành phố T; Kết luận định giá tài sản số 73/KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 08/8/2024 của Hội đồng định giá; Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thái
5
K phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận:
Do cần tiền để tiêu xài cá nhân, vào lúc 00 giờ 40 phút, ngày 04/8/2024, tại phòng ngủ cách ly Khoa cấp cứu của Bệnh viện L1, địa chỉ: Số A đường L, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, K đã lén lút trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đen trị giá 10.500.000 đồng của anh Nguyễn Cát T (15 tuổi, 05 tháng, 26 ngày) để mang đi bán. Hành vi trên của Nguyễn Thái K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với Nguyễn Thái K là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất vụ án: Bị cáo K là thanh niên, có sức khỏe, biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái và bị pháp luật trừng trị nhưng do tham lam, muốn có tiền để tiêu xài, coi thường pháp luật nên bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu; bị cáo phạm tội đối với người chưa thành niên. Điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém. Hành vi trộm cắp tài sản Nguyễn Thái K thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời góp phần răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cũng xét, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Đối với ông Nguyễn Xuân L (chủ cửa hàng Đ) và anh Nguyễn Đức Bảo P1 là nhân viên của cửa hàng là người mua lại chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax nêu trên, do không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với chị Nguyễn Thị O đã nhận số tiền 1.800.000 đồng, không biết tiền do K phạm tội mà có và đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với chị O.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách
6
nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
[5] Vật chứng vụ án:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh đen, dung lượng 128GB, số IMEI 355591193769741. Ngày 27/10/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T đã tiến hành trả lại cho anh Nguyễn Cát T (bút lục 15, 16).
- - 01 (một) USB chứa đoạn camera ghi nhận hình ảnh Nguyễn Thái K thực hiện hành vi lấy trộm điện thoại di động; 01 (một) USB chứa đoạn camera ghi nhận hình ảnh Nguyễn Thái K thực hiện hành vi bán điện thoại di động là tài liệu liên quan đến vụ án nên lưu hồ sơ vụ án;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE, số IMEI 356779117240779, mặt lưng màu trắng, đã qua sử dụng và số tiền 1.800.000 đồng thu giữ của bị cáo K, do phạm tội mà có nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước;
- - 01 (một) áo sơ mi màu xanh trên áo có in hình logo CT.DVBV- P, 01 (một) quần vải màu đen không có nhãn hiệu, 01 (một) đôi dép màu trắng không nhãn hiệu, 01 (một) quần jean ngắn màu xám đen; (01) một áo màu đen ngực trái có thêu chữ THE NORTH FACE màu trắng, ngực phải có thêu chữ GS và kí hiệu tiếng nước ngoài màu trắng, đây là đồ dùng cá nhân của bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- - Bị hại anh Nguyễn Cát T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Ông Nguyễn Xuân L không yêu cầu bị cáo K bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thái K được quyền kháng cáo bản án và phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2024.
7
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:
- - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE, số IMEI 356779117240779, mặt lưng màu trắng, đã qua sử dụng và số tiền 1.800.000 đồng;
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) áo sơ mi màu xanh trên áo có in hình logo CT.DVBV- P, 01 (một) quần vải màu đen không có nhãn hiệu, 01 (một) đôi dép màu trắng không nhãn hiệu, 01 (một) quần jean ngắn màu xám đen; (01) một áo màu đen ngực trái có thêu chữ THE NORTH FACE màu trắng, ngực phải có thêu chữ GS và kí hiệu tiếng nước ngoài màu trắng.
- - Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) USB chứa đoạn camera ghi nhận hình ảnh Nguyễn Thái K thực hiện hành vi lấy trộm điện thoại di động; 01 (một) USB chứa đoạn camera ghi nhận hình ảnh Nguyễn Thái K thực hiện hành vi bán điện thoại di động.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 401/QĐ-VKSTPTĐ ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Biên bản giao nhận tang tài vật ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức; Giấy nộp tiền mặt số 27307603 ngày 22/10/2024 do Công an thành phố T nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức).
- Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Nguyễn Thái K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Nơi nhận:
|
Tăng Thị Nguyệt |
Bản án số 622/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 622/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình phạt tù
