Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHÀ BÈ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 622/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/9/2024.

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Tính.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Nhàn.
  2. Bà Trần Thanh Trúc.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Hoa Thiên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè: Bà Lê Hà Bảo Trân – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 294/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1363/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1877/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phạm Hồng C, sinh năm 1980. (có mặt)
  2. Địa chỉ: A D, đường N, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Như N, sinh năm 1986. (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: A D, đường N, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 28/5/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Hồng C trình bày:

Ông Phạm Hồng C và bà Nguyễn Thị Như N tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 108 ngày 11/8/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 7 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã do liên quan đến tài chính trong gia đình, quan điểm nuôi dạy con. Khoảng 1 năm nay, ông C với bà N tuy chung sống cùng nhà nhưng không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau, cả hai đều sống cuộc sống riêng. Ông C cho rằng vợ chồng không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Như N.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Phạm Nguyễn Gia K, sinh ngày 05/8/2016 và Phạm Nguyễn Gia A, sinh ngày 21/4/2018. Sau khi ly hôn, ông C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 2 con chung và không yêu cầu bà N cấp dưỡng. Vì từ trước đến nay, ông C luôn là người chăm sóc chính và đưa đón các con đi học. Sau khi sinh trẻ Gia K, bà N không còn đi làm, ông C là trụ cột kinh tế trong gia đình nên có khả năng kinh tế để nuôi dưỡng cả hai con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Toà án triệu tập bị đơn bà Nguyễn Thị Như N tham gia phiên toà vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 28 tháng 8 năm 2024, bà N vắng mặt. Tại phiên toà ngày hôm nay, bà N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét ông Phạm Hồng C và bà Nguyễn Thị Như N kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 108 ngày 11/8/2015 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nay ông Phạm Hồng C yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Như N là quan hệ tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo qui định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn bà Nguyễn Thị Như N hiện đang cư trú tại địa chỉ A D, đường N, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè theo điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Bị đơn bà Nguyễn Thị Như N đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N.

[4] Nguyên đơn ông Phạm Hồng C yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Như N do bất đồng quan điểm sống về việc nuôi dạy con, mâu thuẫn về kinh tế, hai không tìm được tiếng nói chung. Bị đơn bà N mặc dù biết ông C có đơn yêu cầu ly hôn và những lần Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt và từ bỏ quyền lợi của mình, không tham gia hoà giải, chứng tỏ bà N không còn thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét, mâu thuẫn vợ chồng mà ông C trình bày là có thật, nay ông C yêu cầu xin ly hôn với bà N là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Phạm Nguyễn Gia K, sinh ngày 05/8/2016 và Phạm Nguyễn Gia A, sinh ngày 21/4/2018. Con chung do ông C trực tiếp chăm sóc, đưa đón con đi học. Xét cần thiết phải để 02 trẻ tiếp tục ở cùng nhằm bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục, ổn định tâm lý và tình cảm của con nên yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung của ông C là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông C không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản chung: Ông C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về nợ chung: Ông C khai không có nên không có gì để giải quyết.

[6] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông C chịu án phí 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, 39, 227, 228, 266, 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hồng C1:
    • - Về quan hệ vợ chồng: Ông Nguyễn Hồng C1 được ly hôn với bà Nguyễn Thị Như N.
    • - Về con chung: Giao 02 con chung tên Phạm Nguyễn Gia K, sinh ngày 05/8/2016 và Phạm Nguyễn Gia A, sinh ngày 21/4/2018 cho ông Phạm Hồng C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông C không yêu cầu nên không có gì để giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trên cơ sở lợi ích của con, nếu có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không có gì giải quyết.
  1. Về án phí: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) ông Phạm Hồng C có nghĩa vụ phải nộp được cấn trừ vào biên lai số 0017867 ngày 11/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè. Ông Phạm Hồng C đã nộp đủ án phí.
  2. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  3. Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án đối với nguyên đơn và kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ đối với bị đơn.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND huyện Nhà Bè;
  • - Chi cục THADS huyện Nhà Bè;
  • - UBND phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS-VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trung Tính

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN -

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 622/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 622/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger