Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 621/2023/HS-ST
Ngày 29 - 12 - 2023.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Quốc Trí
Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Chính
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Công Thị Minh Lợi - Giáo viên
Bà Bùi Thị Thu Giang
Bà Chu Thị Kim Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 524/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 698/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với:

Bị cáo Nguyễn Đức T, sinh năm 1992; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: nguyên là công an; con ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị H; vợ là Đặng Kiều O; có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H; có mặt.

Bị hại:

  1. Cháu Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 17/6/2016; đại diện hợp pháp của cháu P là chị Đào Thanh H1 và anh Nguyễn Xuân C (là bố mẹ đẻ cháu P);
  2. Chị Đào Thanh H1, sinh năm 1987;
  3. Anh Nguyễn Xuân C, sinh năm 1984;

Cùng nơi cư trú tại: C, Khu đô thị V, phường V, quận L, thành phố Hà Nội; các bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Anh T2, sinh năm 1986; nơi cư trú tại: Tổ C, phường N, quận L, thành phố Hà Nội; nơi công tác: Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an quận L; vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức T:

Luật sư Nguyễn Ánh T3 thuộc Văn phòng L1 – Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Nguyễn Hoàng P:

Luật sư Nguyễn Quang T4 thuộc Văn phòng L2 – Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức T là Cán bộ công tác tại Đội tham mưu thuộc Phòng C3 Công an tỉnh V. Khoảng năm 2019, T vay tiền của nhiều người để sử dụng vào mục đích cá nhân và bị thúc ép trả nợ nên đã nảy sinh ý định đi tìm những nhà có điều kiện về kinh tế để trộm cắp tài sản, bán lấy tiền trả nợ. Ngày 04/7/2023, T thuê của anh Nguyễn Trường G 01 chiếc xe ô tô hiệu Kia Morning màu trắng, biển kiểm soát 88A-286.44, mục đích sử dụng làm phương tiện đi phạm tội. Sau đó, T lắp biển kiểm soát 29A-246.99 giả để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng; đồng thời mua (của một người đàn ông không quen biết) 01 khẩu súng hiệu ZORAKI M906-TD cỡ 09mm, loại súng bắn đạn cao su để làm hung khí chống trả nếu bị người dân phát hiện. Sau khi chuẩn bị đầy đủ công cụ phạm tội, T chọn địa điểm là khu đô thị V và khu đô thị V thuộc phường V, quận L, thành phố Hà Nội để trộm cắp tài sản.

Khoảng 11 giờ ngày 13/8/2023, T điều khiển xe ô tô hiệu Kia Morning màu trắng, lắp biển kiểm soát giả 29A-246.99 đi đến khu đô thị V và khu đô thị V thuộc phường V quận L, thành phố Hà Nội. Tại đây, T điều khiển xe ô tô đi trên nhiều tuyến đường nhưng không trộm cắp được tài sản nên đã quay về nhà.

Khoảng 11 giờ ngày 14/8/2023, T lấy khẩu súng ZORAKI M906-TD đã lắp sẵn 05 viên đạn trong hộp tiếp đạn, lên đạn và không khóa chốt an toàn cất trong túi quần bên trái, cùng 32 viên đạn để trong hộp để đồ giữa ghế lái và ghế phụ của xe ô tô Kia Morning màu trắng, lắp biển kiểm soát giả 29A-246.99. Sau đó, T điều khiển xe ôtô đi lòng vòng quanh khu đô thị V và khu đô thị V, phường V, quận L, thành phố Hà Nội nhưng vẫn không tìm được nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T nảy sinh ý định bắt cóc trẻ em nhằm mục đích đe dọa người nhà của cháu bé để đòi tiền chuộc. Để thực hiện hành vi bắt cóc, T đến các cửa hàng tạp hóa ở chợ L3,

phường P, quận B, Hà Nội mua thêm 01 cuộn băng dính loại to, 01 đôi găng tay và 02 dây chun buộc hàng cất trên xe ô tô. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe ô tô đi lòng vòng trên các tuyến đường quanh khu đô thị V, phường V, quận L, Hà Nội. Khi đi đến trước cửa số nhà D, khu đô thị V, T nhìn thấy cháu Nguyễn Hoàng P (sinh ngày 17/6/2016; trú tại số nhà C, khu đô thị V, phường V, quận L) đang đạp xe đạp đi chơi trên đường ở gần nhà. T quan sát thấy xung quanh vắng người qua lại nên dừng xe ô tô bước xuống giả vờ hỏi cháu P về nhà “chú T2” để đánh lạc hướng. Ngay sau đó, T bất ngờ kéo cháu P lên xe ô tô và dùng dây trói tay và người cháu P vào ghế phụ phía trên của xe ô tô. Sau khi bắt trói cháu P, T hỏi cháu P thì được kể về việc “bố cháu làm Giám đốc Công ty, mẹ cháu làm thư ký cho bố, nhà cháu có tiền” và đọc số điện thoại 0913.122.xxx của chị Đào Thanh H1 (là mẹ cháu P). Sau đó, T điều khiển xe ô tô chở cháu P đi lên S. Trên đường đi, T sử dụng số điện thoại có sim số 0904.379.xxx gọi cho chị H1 thông báo về việc đã bắt cóc cháu P, đe dọa giết cháu P và đòi 15.000.000.000 đồng tiền chuộc cháu P. Lúc này, chị H1 nhận được điện thoại của T, biết cháu P đã bị bắt cóc nên rất hoảng sợ, đã đồng ý yêu cầu đòi tiền chuộc của T và bảo T cho thời gian để chuẩn bị tiền; đồng thời cùng gia đình báo cáo vụ việc đến Công an quận L. Trong thời gian chờ chị H1 chuẩn bị tiền, để tránh sự phát hiện của Cơ quan điều tra, T vứt bỏ quần áo và biển kiểm soát ô tô giả 29A-246.99 ở khu vực đường đê thuộc quận L, Hà Nội (không xác định được cụ thể), lái xe ô tô chở cháu P đi lòng vòng qua nhiều địa điểm. Vừa đi T vừa nhiều lần gọi điện thoại cho chị H1 đe dọa nếu chị H1 báo Công an hoặc chuẩn bị không đủ số tiền 15.000.000.000 đồng thì sẽ không được gặp lại cháu P. Thời điểm này, gia đình chị H1 chỉ chuẩn bị được số tiền 6.000.000.000 đồng (VND) và 300.000 USD (đô la Mỹ) nên khi Trung liên hệ lại, chị H1 đã xin T cho trả số tiền và đô la Mỹ trên thì được T đồng ý. Chị H1 cho toàn bộ tiền vào 01 túi xách màu đen rồi mang lên xe ô tô nhãn hiệu Kia K3, biển kiểm soát 30H-80144 (xe của chị H1) và điều khiển xe đi qua nhiều địa điểm theo hướng dẫn của T để đến đường gom gần khu công nghiệp Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Đến khoảng 05 giờ ngày 15/8/2023, T đã chở theo cháu P chờ sẵn tại địa điểm đường gom gần khu công nghiệp Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Khi thấy xe của chị H1 đến, T yêu cầu chị H1 dừng lại, xuống xe và mang theo túi đựng tiền màu đen đi về hướng xe của T. Chị H1 làm theo yêu cầu của T và đi được một đoạn nhưng không nhìn thấy cháu P. Chị H1 không để túi tiền vào trong xe của T mà để xuống đường rồi quay lại xe của mình. Thấy vậy, T lái xe đến lấy túi đựng tiền rồi để ở chân ghế lái. Sau khi nhận được túi đựng số tiền 6.000.000.000 đồng và 300.000 USD từ chị H1, T thả cháu P xuống đường và lái xe bỏ trốn. Cùng lúc này, tổ công tác thuộc Phòng C4 Công an thành phố H phối hợp với Công an quận L phát hiện, bắt giữ T cùng toàn bộ vật chứng. Quá trình khống chế bắt giữ T,

do có sự giằng co nên khẩu súng (đã lên đạn sẵn) mà T mang theo rơi từ trong túi quần bên trái của T xuống đất làm súng cướp cò và phát nổ 01 lần trúng vào mặt trước trong 1/3 dưới đùi chân phải của anh Nguyễn Anh T2 (là Cán bộ Công an quận L đang tham gia bắt giữ T). Sau đó, mọi người đã bắt giữ T và đưa anh T2 đến Bệnh viện Đ để cấp cứu và điều trị thương tích.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai khoảng năm 2021, T đã mua khẩu súng và đạn của một người không quen trên mạng internet với giá 23.000.000 đồng và cất giấu ở nhà, không có ai biết. Đến ngày 14/8/2023, T mang theo khẩu súng và đạn trên để thực hiện hành vi Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành xác định hiện trường vụ án, trưng cầu giám định và thu giữ vật chứng liên quan. Kết quả như sau:

Tại biên xác định hiện trường vụ án hồi 09 giờ ngày 16/8/2023 tại đoạn trước nhà biệt thự D, khu đô thị V, phường V, quận L, Hà Nội xác định:

“... Hiện trường chung được xác định tại đường nội bộ trong khu đô thị V (đường giữa dãy biệt thự D và dãy biệt thự B), khu vực trước cửa biệt thự D7-BT7, thuộc phường V, quận L, Hà Nội. Đường nội bộ khu vực này trải nhựa bằng phẳng, lòng đường rộng 5,3m nằm theo trục Bắc - N. Trong đó, phía Bắc hướng đi ra khu vực ngã ba giao cắt với trục nội bộ trước dãy biệt thự C, phía nam hướng đi ra công viên nội khu BT7.

Hiện trường cụ thể: Vị trí cháu Nguyễn Hoàng P dừng xe đạp sau đó bị Nguyễn Đức T lôi lên xe ô tô cách tường bao phía Tây biệt thự D7-BT7 là 5,9m, cách mép trái cửa biệt thự D7-BT7 là 7,3m, cách góc Đông nam biệt thự C6-BT7 là 19m.

Vị trí đối tượng Nguyễn Đức T dừng xe ô tô, mở cửa xe, lôi cháu Nguyễn Hoàng P lên xe cách tường bao phía Tây biệt thự D7-BT7 là 4,5m, cách mép trái cửa cổng biệt thự D7-BT7 là 06m, cách góc Đông nam biệt thự C6-BT7 là 18,5m..."

Vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và đồ vật, tài sản liên quan gồm:

  • - Thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Đức T: 02 khung hộp kim loại gắn trên biển phía trước và phía sau xe ô tô; 01 chiếc xe ô tô hiệu Kia Morning biển kiểm soát 88A-28644; 01 đoạn dây chun màu xanh dài 190mm, một đầu buộc móc kim loại; 01 khẩu súng màu đen có khắc dòng chữ số ZORAKI

M906-TD, chiều dài 140mm; 01 hộp tiếp đạn dài 93mm; 36 viên đạn có chiều dài 20mm, đường kính 09mm ; 01 cuộn băng dính; 01 đôi găng tay; 03 chiếc điện thoại di động các loại số tiền 6.000.000.000 đồng (VND) và 300.000 USD (đô la Mỹ).

  • - Thu giữ do anh Nguyễn Ngọc H2 (là Bác sỹ khoa chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Đ) giao nộp: 01 dị vật bằng cao su kích thước khoảng (0,8x0,8)cm, là vật được thu giữ từ vết thương của anh Nguyễn Anh T2.
  • - Thu giữ do chị Ngô Thị H3 (sinh năm 1953; trú tại số nhà B khu đô thị V, phường V, quận L, Hà Nội) giao nộp: 01 USB bên trong có hình ảnh liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra đã trích xuất hình ảnh camera còn lưu giữ hình ảnh Nguyễn Đức T thực hiện hành vi bắt cóc cháu Nguyễn Hoàng P.

Tại bản Kết luận giám định số 5770/KL-TTHS ngày 30/8/2023 của Phòng C4 - Công an thành phố H, kết luận về xe ô tô liên quan, như sau:

“... Xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, biển kiểm soát 88A-286.44 có số khung nguyên thủy RNYTC51A4KC161308; số máy nguyên thủy G4LAKP04646..".

Tại bản Kết luận giám định số 6163/KL-KTHS ngày 13/9/2023, của V - Bộ C5, kết luận về khẩu súng màu đen ký hiệu ZORAKI M906-TD và các viên đạn, như sau:

“... 01 khẩu súng màu đen chiều dài 140mm, bên ngoài có dòng chữ, số ZORAKI M906 -TD cỡ 09mm, thuộc công cụ hỗ trợ. Hiện tại khẩu súng còn sử dụng để bắn được. Khẩu súng trên không bắn ra các vỏ đạn, đầu đạn của các vụ án khác hiện đang lưu trữ tại Tàng thư dấu vết súng đạn của V - Bộ C5.

- 36 viên đạn là đạn cao su cỡ 09mm, thuộc công cụ hỗ trợ và sử dụng lắp, bắn được cho khẩu súng trên (Giám định viên đã sử dụng 06 viên đạn để tiến hành bắn thực nghiệm, tiêu hao trong quá trình giám định, không hoàn trả).

- 01 mẫu vật màu đen là đầu đạn của loại đạn cao su cỡ 09mm. Dấu vết do súng bắn để lại trên đầu đạn gửi giám định không đủ cơ sở để xác định khẩu súng đã bắn ra..."

Tại Công văn số 2596/CAT-PH10 ngày 23/9/2023 của Công an tỉnh V trả lời về nguồn gốc khẩu súng màu đen ký hiệu ZORAKI M906-TD và các viên đạn thu giữ do bị can Nguyễn Đức T giao nộp, như sau:

“... Công an tỉnh V khẳng định không quản lý, trang cấp cho các đơn vị thuộc Công an tỉnh loại súng, đạn nêu trên...".

Tại Công văn số 2387/H03-P6 ngày 20/9/2023 của Cục trang bị và K - Bộ C5 trả lời về nguồn gốc khẩu súng màu đen ký hiệu ZORAKI M906-

TD và các viên đạn thu giữ do bị can Nguyễn Đức T giao nộp, như sau: “... Thông tin Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H cung cấp không đủ căn cứ để xác minh nguồn gốc số vũ khí trên...”.

Cơ quan điều tra đã xác minh về tỷ giá quy đổi ngoại tệ ngày 14/8/2023 của ngân hàng N1, xác định 01 USD tương đương 23.837 đồng. Số tiền 300.000 USD tương đương 7.151.100.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền do Nguyễn Đức T chiếm đoạt của gia đình chị Đào Thanh H1 là 13.151.100.000 đồng. Ngày 26/8/2023, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trao trả số tài sản trên cho chị H1. Chị H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị can T phải bồi thường dân sự.

Đối với anh Nguyễn Anh T2 là thành viên lực lượng Công an H thạm gia truy bắt bị can Nguyễn Đức T. Khi bắt giữ T, khẩu súng của T bị rơi xuống đất và cướp cò phát nổ gây ra vết thương ở mặt trước trong 1/3 dưới đùi chân phải. Sau khi được điều trị, vết thương của anh T2 không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe nên anh T2 đã từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bị can T bồi thường tiền chữa trị vết thương.

Đối với chiếc xe ô tô hiệu Kia Morning màu trắng, biển kiểm soát 88A-286.44 thu giữ của bị can Nguyễn Đức T, kết quả điều tra xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Trường G. Anh G cho T thuê xe làm phương tiện đi lại và không biết T sử dụng làm phương tiện thực hiện tội phạm. Do đó ngày 25/8/2023, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho anh G. Anh G đã nhận lại xe và không yêu cầu bị can T bồi thường hoặc trả tiền thuê xe.

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã xác định Nguyễn Đức T vay tiền của các đối tượng là Nguyễn Thành L (sinh năm 1988; trú tại tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc), Nguyễn Văn M (sinh năm 1990; trú tại tổ dân phố B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc), Hà Quốc H4 (sinh năm 1989; trú tại tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc), Ngô Quang C1 (sinh năm 1993; trú tại tổ dân phố T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc) và Dương Minh C2 (sinh năm 1957; trú tại tổ dân phố P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc). Việc vay tiền đều diễn ra tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nên ngày 29/9/2023, Cơ quan điều tra đã quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến những người cho T vay tiền để chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với hành vi tàng trữ 01 khẩu súng màu đen (loại công cụ hỗ trợ) ký hiệu ZORAKI M906-TD và 37 viên đạn cao su (loại công cụ hỗ trợ) của Nguyễn Đức T đã vi phạm qui định tại điểm a, khoản 4, Điều 11, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Ngày 25/9/2023, Phòng

C4 Công an thành phố H đã đề nghị Giám đốc Công an thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi trên.

Tại bản cáo trạng số: 512/CT-VKSHN-P1 ngày 26/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 169 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng đối với Nguyễn Đức T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 169; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Đức T từ 18 năm tù đến 19 năm tù về tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone mầu vàng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone mầu trắng; 01 điệu thoại di động Nokia mầu xanh.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 dây chun; 01 cuộn băng dính; 01 đôi găng tay; 01 mũ lưỡi trai mầu đen; 02 khung hộp kim loại; 01 súng ZORAKI.

Luật sư Nguyễn Ánh T3 bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận như sau: Tôi không có ý kiến về tội danh và điều luật Viện kiểm sát đã viện dẫn đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; nhân thân tốt; có nhiều thành tích trong công tác nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Nguyễn Hoàng P có ý kiến tranh luận như sau: Tôi nhất trí hoàn toàn với lời luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và đáng bị lên án, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo nghiêm minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Cơ quan điều tra Công an thành phố H, điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập đến phiên tòa tham gia tố tụng đối với bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên bị hại đã có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Lời khai của Nguyễn Đức T tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử, đủ cơ sở kết luận: Do vay tiền của nhiều người và bị thúc ép trả nợ nên Nguyễn Đức T đã nảy sinh ý định bắt cóc trẻ em nhằm đòi tiền chuộc để lấy tiền trả nợ. Khoảng 16 giờ ngày 14/8/2023, T điều khiển xe ô tô hiệu Kia Moning màu trắng, biển kiểm soát: 88A-286.44 (lắp biển kiểm soát giả: 29A-246.99) đi từ tỉnh Vĩnh Phúc xuống khu đô thị V, phường V, quận L, thành phố Hà Nội mục đích tìm bắt cóc trẻ em để đe dọa đòi tiền của bố mẹ cháu bé. Để thực hiện hành vi trên, T đi ra chợ thuộc khu vực quận L (không nhớ rõ địa chỉ) mua 01 cuộn băng dính to, 01 đôi găng tay với giá 40.000 đồng và 02 dây chun buộc hàng với giá 30.000 đồng. Tiếp theo, T điều khiển xe ô tô đi đến số nhà D, khu đô thị V, phường V, quận L thì thấy cháu Nguyễn Hoàng P (sinh ngày 17/6/2016) đang đi xe đạp một mình. T đã bắt cháu P lên xe ô tô và dùng dây trói tay, người cháu P vào ghế phụ phía trên của xe. Sau khi hỏi cháu P và biết được số điện thoại của chị Đào Thanh H1 là mẹ cháu P, T đã gọi điện thoại cho chị H1 đe dọa và đòi 15.000.000.000 đồng tiền chuộc cháu P. Do gia đình của chị H1 chuẩn bị được tổng là 13.151.100.000 đồng, trong đó 6.000.000.000 đồng và 300.000 USD (tương đương 7.151.100.000 đồng) nên chị H1 xin T cho trả số tiền trên thì T đồng ý. Theo yêu cầu của T, chị H1 để tiền trong túi xách màu đen rồi mang lên xe ô tô của mình và lái xe theo chỉ dẫn của T đến đường gom gần khu công nghiệp Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Đến nơi, chị H1 xuống xe ô tô và mang theo túi tiền để xuống dưới đất. T lấy túi tiền rồi thả cháu P ra và lái xe bỏ trốn thì bị tổ công tác của Công an thành phố H phát hiện, bắt giữ cùng vật chứng.

[2.2]. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức T là đặc biệt nghiêm trọng đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Hành vi phạm tội của bị cáo còn đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền tự do thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này, bị cáo nhằm vào trẻ em với mục đích chiếm đoạt số tiền đặc biệt lớn, gây dư luận rất xấu trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo

thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, có nhiều thủ đoạn che giấu tội phạm, đối phó với Cơ quan công an sau khi gây án, ảnh hưởng rất xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn Thủ đô; ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, hình ảnh của người Công an nhân dân. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[2.3]. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xét bị cáo Nguyễn Đức T sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; nhân thân tốt, trong quá trình công tác được tặng nhiều Giấy khen của Công an tỉnh V để áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và giúp bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

[2.4]. Theo quy định tại khoản 6 Điều 169 Bộ luật hình sự, bị cáo Nguyễn Đức T còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền nhưng xét bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn, con còn nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[2.5]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: bị hại, đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.6]. Đối với việc Nguyễn Đức T vay tiền của Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn M, Hà Quốc H4, Ngô Quang C1 và Dương Minh C2. Xét thấy, cần kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ có hay không có việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự để xác định rõ trách nhiệm, xử lý theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng nêu trên.

[2.7]. Về xử lý vật chứng:

  • - Bị cáo sử dụng các điện thoại vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với các đồ vật, tài sản bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; giá trị sử dụng thấp nên cho tịch thu tiêu hủy.

[2.8]. Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu án phí sơ thẩm theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[2.9]. Bị cáo; bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người bào chữa; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu P có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 169; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Đức T: 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2023.

[2]. Căn cứ khoản điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

[2.1]. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone mầu vàng, không lắp sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone mầu trắng, lắp 01 sim; 01 điện thoại di động Nokia mầu xanh, lắp 02 sim. Các điện thoại này đều đã qua sử dụng.

[2.2]. Tịch thu tiêu hủy: 01 dây chun mầu xanh dài 190mm, một đầu buộc móc kim loại; 01 cuộn băng dính; 01 đôi găng tay; 01 mũ lưỡi trai mầu đen; 02 khung hộp kim loại.

(các vật chứng nêu trên đã chuyển đến Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/10/2023).

[2.3]. Tịch thu tiêu hủy 01 súng ZORAKI M906 – TD, chiều dài 140mm; 01 hộp tiếp đạn, chiều dài 93mm; 30 viên đạn, chiều dài 20mm, đường kính 9mm; 01 đầu đạn của loại đạn cao su cỡ 9mm.

(theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30/9/2023 giữa người giao là Nguyễn Đình Tuấn N, chức danh: Điều tra viên thuộc Cơ quan điều tra Công an thành phố H và người nhận là Lê Đức H5, chức vụ: Cán bộ phòng C4 Công an thành phố H).

[3]. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Nguyễn Hoàng P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.

Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[5]. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ có hay không có việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với các đối tượng cho Nguyễn Đức T vay tiền để xác định rõ trách nhiệm, xử lý theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng này.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Công an TP. Hà Nội;
  • - Cục thi hành án dân sự TP. Hà Nội;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo; bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại; người liên quan; người bào chữa; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Phúc;
  • - Trại tạm giam số 1;
  • - Lưu hồ sơ, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
ĐINH QUỐC TRÍ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 621/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 621/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T - Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger