Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 621/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10 tháng 6 năm 2025

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Thuần- Giáo viên nghỉ hưu

2/ Ông Lâm Bình Đăng- Bí thư đoàn phường Thới An

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống- Cán bộ Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 12 đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 67/2025/TLST/TLST-HNGĐ Ngày 17 tháng 01 năm 2025 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 622/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1993.

HKTT: Xóm C, Thắng Động, xã Khánh Thượng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình

Trú tại: 190/8, Nguyễn Thị B, khu phố D, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1984.

HKTT: Xóm C, Thắng Động, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

Trú tại: Nhà không số, tổ B, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương trình bày:

Tôi và ông Nguyễn Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2010, Giấy chứng nhận kết hôn số 35 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình cấp ngày 15/7/2010. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, bất đồng quan điểm sống, đánh nhau, mâu thuẫn ngày càng tăng và không thể hàn gắn. Tôi cảm thấy hai vợ chồng không thể nào hòa hợp chung sống với nhau được nữa, chúng tôi đã ly thân trong thời gian dài. Nay tôi yêu cầu Tòa án cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn Văn H

- Về con chung: có 03 con chung – Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 06/9/2010; Nguyễn Tuấn L, sinh ngày 25/11/2016; Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 18/7/2021. Bà Nguyễn Thị P yêu cầu được nuôi 01 con chung Nguyễn Thanh T1. Đồng ý giao con Nguyễn Tuấn L và Nguyễn Thị Phương T cho ông Nguyễn Văn H nuôi dưỡng. Không nên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết

2/ Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Đúng là tôi và bà Nguyễn Thị P tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2010, Giấy chứng nhận kết hôn số 35 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình cấp ngày 15/7/2010.

Tôi không đồng ý ly hôn, vì lý do mẫu thuẫn vợ chồng chưa đến nghiêm trọng, nếu phải ly hôn thì tôi yêu được nuôi 03 con Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Thị Phương T và Nguyễn Thanh T1. Tôi - H đang làm công nhân và buôn bán xe đạp cũ có thu nhập ổn định nên không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Đây là vụ kiện ly hôn, ông Nguyễn Văn H là bị đơn và đang cư ngụ tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho các đương sự.

- Về yêu cầu của các đương sự:

Căn cứ vào các lời khai của đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu của đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:

Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn Hải đăng K kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình cấp ngày 15/7/2010. Có cơ sở kết luận quan hệ hôn nhân bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn H là hôn nhân hợp pháp.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng luôn bất đồng quan điểm.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị P vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Bà Nguyễn Thị P yêu cầu được nuôi 01 con chung Nguyễn Thanh T1, hiện nay bà P đang làm công nhân may nên đủ khả năng nuôi dưỡng con. Đồng ý giao con Nguyễn Tuấn L và Nguyễn Thị Phương T cho ông Nguyễn Văn H nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết

Trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn H thừa nhận có bạo lực với bà P làm ảnh đến cuộc sống gia đình. Nhưng bản thân còn yêu thương vợ con, không đồng ý ly hôn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hòa giải đoàn tụ gia đình. Nếu phải ly hôn, ông Nguyễn Văn H yêu cầu được nuôi 03 con Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Thị Phương T, Nguyễn Thanh T1 không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Tòa án nhân dân Quận 12 tiến hành xác minh, tại kết quả xác minh của UBND phường T xác định mâu thuẫn “Hiện nay, ông Nguyễn Văn H đang cư trú tại địa chỉ nhà không số, khu phố A, phường T, Quận A. Bà Nguyễn Thị P không còn cư trú tại địa chỉ trên. Trong thời gian cư ngụ tại địa phương, Tổ hòa giải cơ sở Khu phố A và Công an phường chưa nhận được đơn đề nghị hòa giải mâu thuẫn trong hôn nhân của gia đình bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn H”.

Tòa án đã tạo điều kiện cho hai bên thời gian để hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả, ông Nguyễn Văn H không đề ra kế hoạch có tính khả thi để hàn gắn tình cảm vợ chồng, ngoài ra ông H thừa nhận có bạo lực gia đình, lời thừa nhận của ông H phù hợp với Giấy chứng nhận thương tích do Bệnh viện Q ngày 06/8/2024 xác nhận tình trạng đối với bà Nguyễn Thị P: Bệnh nhân bị người khác đánh gây đau nhiều vùng trên cơ thể ở vùng thái dương phải, vùng khuỷn tay phải, vùng cổ tay phải, vùng vai trái, vùng cánh tay trái, vùng cổ trước, vùng cổ sau

Như vậy những chứng cứ trên thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn H là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó xét thấy yêu cầu của bà Nguyễn Thị P là có cơ sở, nên chấp nhận.

Về con chung: có 03 con chung – Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 06/9/2010; Nguyễn Tuấn L, sinh ngày 25/11/2016; Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 18/7/2021. Bà T2 có công việc và thu nhập ổn định, yêu cầu được nuôi 01 con chung Nguyễn Thanh T1. Đồng ý giao con Nguyễn Tuấn L và Nguyễn Thị Phương T cho ông Nguyễn Văn H nuôi dưỡng. Tại bản tự khai của trẻ Nguyễn Thị Phương T và Nguyễn Tuấn L có nguyện vọng được sống với bố. Xét thấy yêu cầu của bà P là chính đáng và phù hợp. Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Nguyễn Thanh T1 cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao 02 trẻ Nguyễn Thị Phương T và Nguyễn Tuấn L cho ông Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, bà Nguyễn Thị P phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 179; Điều 199; Điều 200; Điều 208; Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P được ly hôn đối với ông Nguyễn Văn H
  2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng kết hôn số 35 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình cấp ngày 15/7/2010 cấp cho bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn H không còn giá trị pháp luật.

  3. Về con chung: có có 03 con chung – Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 06/9/2010; Nguyễn Tuấn L, sinh ngày 25/11/2016; Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 18/7/2021. Giao trẻ Nguyễn Thanh T1 cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao 02 trẻ Nguyễn Thị Phương T và Nguyễn Tuấn L cho ông Nguyễn Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con
  4. Vì lợi ích của các con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này

  5. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  6. Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị P phải chịu. Được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng bà Nguyễn Thị P đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0049971 ngày 17/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị P đã nộp đủ án phí.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  8. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM
  • - VKSND Quận 12;
  • - UBND xã Khánh Thượng;
  • - Chi cục THA Dân sự Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ma Văn Nhất

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 621/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 621/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger