|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 621/2024/HS-PT Ngày 30-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn An
Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm trực tuyến (cầu trung tâm Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh với cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang) vụ án hình sự thụ lý số 387/2024/TLPT- HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Minh T, sinh ngày 22/3/1993 tại tỉnh Hậu Giang.
Nơi cư trú: Ấp F, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Thợ nấu ăn; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D và bà Lương Thị Á; Bị cáo có vợ là chị Nguyễn Thị Mộng T1 và 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Nguyễn Văn L, sinh năm 2005; nơi cư trú: Khóm H, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Nguyễn Thị Hạnh E, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khóm H, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Nguyễn Thị L1, sinh năm 1981 (vắng mặt);
- Chang Min H1, sinh năm 1977 (vắng mặt);
Cùng cư trú: Số C, Lộ H, khóm B, phường C, khu T, thành phố Đ Đài Loan.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Hà Thị Yến V, sinh ngày 24/12/1998; nơi cư trú: Tổ A, khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Nguyễn Thị Mộng T1, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người có kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Minh T.
Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Thanh N, nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề cập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 23/6/2022, Nguyễn Thanh N nghe tin Hà Thị Yến V (bạn gái có quan hệ tình cảm với Thanh N) và Trần Thị Y (mẹ ruột của V) đến Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang để xem Tòa án giải quyết vụ tranh chấp đất đai giữa Nguyễn Thị N1 và Trần Văn T3 (cậu ruột của V và N1). Tại đây, Thanh N vào quán cà phê “Ông B” đối diện Tòa án uống nước đợi V thì gặp nhóm của Nguyễn Văn T2, gồm: Nguyễn Thị N1, Trần Thị L2 (mẹ ruột của Nguyễn Thị N1), Nguyễn Thị L1, Chang M (Quốc tịch Trung Quốc - Đài Loan; chồng của L1), Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Hạnh E, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn L(chị, em ruột của N1; chị, em bạn dì của V) đang ngồi uống nước bên cạnh. Do có mâu thuẫn với T2 từ trước (vì bênh vực cho V), nên Thanh N gọi điện thoại cho Nguyễn Minh T(bạn của Thanh N) đến quán và cho T biết xảy ra mâu thuẫn với nhóm T2, đồng thời kêu T giúp Thanh N đánh nhau với nhóm của T2, T đồng ý.
Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn cho hoãn phiên tòa xét xử giải quyết vụ tranh chấp đất đai giữa Nguyễn Thị N1 và T3 thì Nguyễn Thị N1, L2, L1, T4, H, Hạnh E, L và H1 lên xe ô tô biển số 67A - 183.68 cho T2 điều khiển đi về nhà ở thị trấn C, huyện T. Lúc này, Thanh N cho rằng T2 vẫy tay khiêu khích, nên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại vision, màu trắng (không rõ biển số) đuổi theo. Khi T2 điều khiển xe ô tô biển số 67A - 183.68 đến khu vực ngã tư N2 huyện T thuộc khóm F, thị trấn T (cách trụ sở Tòa án nhân dân huyện khoảng 100 mét) thì bị Thanh N đuổi kịp và chặn đầu xe ô tô của T2 lại. T2 dừng xe, cùng mọi người trên xe đi xuống đường nói chuyện với N dẫn đến hai bên xảy ra cự cãi, đánh nhau. Thanh N lấy 01 đoạn kim loại (loại gậy 3 khúc) để trong túi xách đeo trước ngực, cầm trên tay trái xông đến đánh trúng vào vùng vai trái, thái dương trái và tay phải của T2. Thấy T2 bị đánh, H, L1 và mọi người đi chung chạy đến can ngăn, bị Thanh N dùng tay đánh trúng vùng mũi, ngực trái của H; T2 áp sát, dùng tay đánh lại Thanh N. Bị đánh trả, Thanh N đi lùi ra phía sau và làm rơi cây gậy 3 khúc xuống mặt đường, T2 giật được gậy 3 khúc cầm trên tay phải rượt theo N, bị T đi đến dùng nón bảo hiểm đánh trúng vào vùng lưng, đầu của T2. Sau đó, T chạy đến nơi Chang Min H2 đang đứng, dùng tay trái kẹp cổ, tay phải đấm nhiều cái vào vùng mặt của H2 và được L2, H, L1, L can ngăn, đánh trả. T tiếp tục dùng tay, nón bảo hiểm đánh trúng vào vùng mặt, tay của H và L rồi bỏ chạy. Cùng lúc, V từ Tòa án chạy đến nơi vị trí Thanh N đánh nhau, bị L1, T4 và Hạnh E rượt đuổi do nghĩ V giúp Thanh N. Tức giận, V chạy đến xe bán trái cây của 01 người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) ở khu vực ngã tư N2, lấy cây dao dài khoảng 30cm (lưỡi dao bằng kim loại màu trắng) chạy đến nơi vị trí L1 đang đứng, cầm dao trên tay phải chém 01 nhát trúng vào bả vai trái của L1 gây thương tích và được Nguyễn Văn Q (lực lượng bảo vệ dân phố) đến can ngăn.
Riêng Lê Vũ H3 thấy Nguyễn Thị N1 đánh nhau với T2, nên đi đến can ngăn, bị T2 dùng tay đánh. Tức giận, H3 dùng tay đánh trả lại T2 02 đến 03 cái trúng vào người rồi bỏ đi nơi khác, nhưng không gây thương tích cho T2.
Ngày 01/6/2023, 19/6/2023 và 13/9/2023, Nguyễn Minh T, Nguyễn Thanh N và Hà Thị Yến V bị khởi tố điều tra. Ngày 20/01/2023, Nguyễn Thị L1 có đơn rút yêu cầu xử lý hình sự đối với V. Do V bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A ra Quyết định đình chỉ điều tra đối với V.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 22-3-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, đã tuyên xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 26/5/2023.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh N, trách nhiệm bồi thường dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 04-4-2024, bị cáo Nguyễn Minh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Minh T giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh luận tội: Bị cáo Nguyễn Minh T là người thực hành tích cực, phạm tội có tính chất côn đồ, dùng hung khí nguy hiểm. Do đó, Tòa án sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù là không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về thủ tục tố tụng:
[1]. Các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh An Giang đã thực hiện đều hợp pháp. Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T là trong hạn.
* Về nội dung:
[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Minh T tiếp tục khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 23/6/2022, sau khi được Nguyễn Thanh N rủ đi đánh nhau, bị cáo Nguyễn Minh T đồng ý. Bị cáo T đã dùng nón bảo hiểm đánh trúng vào vùng lưng, đầu của anh Nguyễn Văn T2. Sau đó, T chạy đến nơi Chang Min H2 đang đứng, dùng tay trái kẹp cổ, tay phải đấm nhiều cái vào vùng mặt của H2. Bị cáo không thừa nhận dùng tay và nón bảo hiểm đánh vào vùng mặt, tay của chị Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn L.
[3]. Xét, lời khai nêu trên của bị cáo cho rằng không dùng tay và nón bảo hiểm đánh vào vùng mặt, tay của chị Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn L là mâu thuẫn với lời khai của đồng phạm là Nguyễn Thanh N, lời khai của các bị hại, người làm chứng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết luận: Bị cáo T đã dùng nón bảo hiểm đánh trúng vào vùng lưng, đầu của anh Nguyễn Văn T2. Sau đó, T chạy đến nơi Chang Min H2 đang đứng, dùng tay trái kẹp cổ, tay phải đấm nhiều cái vào vùng mặt của H2, dùng tay và nón bảo hiểm đánh vào vùng mặt, tay của chị Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn L. Trong đó, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của H2 là 14%; của T2 là 02%; của H là 01% và của L là 01%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của các bị hại là 18%. Với hành vi nêu trên, toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Hành vi dùng hung khí nguy hiểm, phạm tội có tính chất côn đồ, với vai trò đồng phạm thực hành giúp sức rất tích cực của bị cáo T đã góp phần gây ra thương tích cho các bị hại, sau khi phạm tội bị cáo không tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại, do đó cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất của hành vi và hậu quả bị cáo đã gây ra để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung.
[5]. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có hoàn cảnh gia đình khó khăn; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T ở mức khởi điểm của khung hình phạt là 02 năm tù, là không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới, nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
[7]. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[8]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Minh T.
Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 22-3-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2023.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 621/2024/HS-PT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 621/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T cđp phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
