|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 621/2024/DS-PT Ngày: 05 - 12 - 2024 |
Về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Văn Ngọt |
| Các Thẩm phán: | Ông Phan Thanh Tòng |
| Ông Lê Văn Phận |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Phương Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Có – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 419/2024/DS-PT ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4555/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thị P, sinh năm 1974; (Có mặt)
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà P: Bà Đinh Quỳnh D, sinh năm 2001;
- Bị đơn: Bà Phan Thị Cẩm N, sinh năm 1986; (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Văn Bảo L, sinh năm 1997; (Có mặt)
- Người đại diện theo uỷ quyền của anh L: Bà Đinh Quỳnh D, sinh năm 2001. Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre; (Có mặt).
- Ông Trần Thế L1, sinh năm 1985. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre; (ông L1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Dương Thị P và bị đơn bà Phan Thị Cẩm N.
Địa chỉ: ấp G, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre; (có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ: ấp G, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm
Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/02/2024, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 19/4/2024 của bà Dương Thị P và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Đinh Quỳnh D trình bày:
Bà P có cho bà N vay 03 lần, cụ thể như sau:
- - Lần 1: Ngày 30/5/2021 dương lịch bà P cho bà N vay số tiền 200.000.000 đồng, bà N nhận tiền mặt, thoả thuận khi nào bà P cần thì bà N trả lại cho bà P, mục đích vay là để kinh doanh bất động sản, lãi suất vay là 3%/tháng, bà N đóng lãi được 01 tháng số tiền là 6 triệu đồng (30/6/2021 dương lịch) rồi không đóng lãi nữa, khi vay bà N có điền thông tin vào giấy in sẵn có tiêu đề là “GIẤY BIÊN NHẬN TIỀN”. Nay bà P đồng ý cấn trừ số tiền 30.000.000 đồng mà ông K đã nhận và trừ luôn số tiền lãi suất bà P đã nhận vượt 1,66%/tháng là 2.680.000 đồng. Như vậy đối với khoản vay này bà P chỉ yêu cầu bà N và ông L1 cùng liên đới trả số tiền gốc là 167.320.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 30/7/2021 dương lịch đến ngày 30/7/2024 dương lịch là 36 tháng theo mức lãi suất 1,66%/tháng với số tiền lãi suất là 99.990.000 đồng.
- - Lần 2: Ngày 30/6/2021 dương lịch con của bà P là Bảo L có chuyển số tiền 50.011.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng của bà N để cho vay số tiền này, thoả thuận khi nào bà P cần thì bà N trả lại cho bà P, mục đích vay là để kinh doanh bất động sản, lãi suất vay là 3%/tháng. Bà N chưa trả bà P bất kì khoản tiền lãi nào của số tiền vay này. Nay bà P yêu cầu bà N và ông L1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà số tiền vốn vay là 50.011.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
- - Lần 3: Ngày 30/9/2021 dương lịch con của bà P là Bảo L có chuyển số tiền 20.262.300 đồng vào tài khoản Ngân hàng của bà N để cho vay số tiền này, thoả thuận khi nào bà P cần thì bà N trả lại cho bà P, mục đích vay là để kinh doanh bất động sản, lãi suất vay là 3%/tháng. Nay bà P đồng ý cấn trừ các khoản tiền mà bà N đã chuyển khoản như sau:
- + Lần 1: Ngày 01/11/2021 bà N có chuyển cho Bảo L số tiền 7.000.000 đồng có nội dung là “NHUNG CK TRA TIEN BAO LINH”.
- + Lần 2: Ngày 18/12/2023 bà N có chuyển cho ông K số tiền 3.500.000 đồng có nội dung là “PHAN THỊ CAM NHUNG chuyen tien tra mo 8 va bao linh”.
- + Lần 3: Ngày 17/01/2024 bà N có chuyển cho ông K số tiền 10.000.000 đồng có nội dung là “PHAN THỊ CAM NHUNG chuyen tien tra mo phan va bao linh".
Như vậy, sau khi cấn trừ các khoản tiền này thì bà N không còn nợ bà P đối với khoản vay của lần thứ ba.
Nay bà Phấn khởi K1 yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Phan Thị Cẩm N và anh Trần Thế L1 cùng liên đới hoàn trả cho bà P tổng số tiền là 317.321.000 đồng [trong đó số tiền vốn gốc là 217.331.000 đồng và tiền lãi suất của số tiền 167.320.000 đồng là 99.990.000 đồng (tiền lãi tính từ ngày 30/7/2021 dương lịch đến ngày 30/7/2024 dương lịch là 36 tháng theo mức lãi suất 1,66%/tháng)].
Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phan Thị Cẩm N trình bày: Đối với các khoản vay bà có ý kiến như sau:
- Khoản vay ngày 30/5/2021 dương lịch bà P cho bà N vay số tiền 200.000.000 đồng: Bà đóng lãi nhiều lần nhưng không nhớ cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh. Bà đồng ý cấn trừ khoản tiền lãi suất đã đóng vượt 01 tháng như bà P đã yêu cầu và đồng ý cấn trừ số tiền bà đưa ông K là 30.000.000 đồng. Nay bà đồng ý trả bà P số tiền vốn là 167.320.000 đồng và 99.990.000 đồng (tiền lãi tính từ ngày 30/7/2021 dương lịch đến ngày 30/7/2024 dương lịch là 36 tháng theo mức lãi suất 1,66%/tháng).
- Khoản tiền Bảo L chuyển lần thứ nhất: số tiền 50.011.000 đồng mà Bảo L chuyển khoản cho bà là để trả nợ số tiền lần trước Bảo L mượn của bà. Khi mượn không có giấy tờ cũng không có người làm chứng nên nay bà đồng ý trả số tiền 50.011.000 đồng này cho bà P, không đồng ý trả lãi vì số tiền này không phải bà vay.
- Khoản tiền Bảo L chuyển lần thứ hai: Bảo L có chuyển số tiền 20.262.300 đồng vào tài khoản Ngân hàng của bà. Nay bà đồng ý cấn trừ vào số tiền của ba lần chuyển khoản như đại diện nguyên đơn đã trình bày, đối với phần tiền cấn trừ chệnh lệch bà không có yêu cầu bà P phải trả lại cho bà, bà đồng ý cho bà P số tiền chênh lệch này.
Nay bà đồng ý hoàn trả cho bà P tổng số tiền là 317.321.000 đồng [trong đó số tiền vốn gốc là 217.331.000 đồng và tiền lãi suất của số tiền 167.320.000 đồng là 99.990.000 đồng (tiền lãi tính từ ngày 30/7/2021 dương lịch đến ngày 30/7/2024 dương lịch là 36 tháng theo mức lãi suất 1,66%/tháng)]. Tuy nhiên, nợ là của riêng bà, bà không đồng ý cùng ông Trần Thế L1 liên đới trả nợ này vì lúc vay ông L1 không biết, mục đích vay là để cho vay lại và kinh doanh bất động sản nhưng bị khách hàng giật không có khả năng thanh toán cho bà P. Ông L1 và bà hiện đã ly hôn theo quyết định số 18/2024/QĐCNTTLH ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thế L1 trình bày:
Ông không biết việc bà N vay nợ của bà P đến khi bà Phấn khởi K1 tại Tòa án thì ông mới được biết. Ông làm nghề lái xe nên việc bà N kinh doanh bất động sản hoặc cho vay lại để lấy lãi, việc cho vay chưa lấy được lãi do bị giật nợ nên không có đem tiền phụ gia đình. Trước khi ly hôn thì vợ chồng sống chung nhà với ba mẹ vợ, vợ chồng ăn chung. Ông làm lái xe tự do, tiền kiếm được dành để nuôi con và ăn uống sinh hoạt trong gia đình. Trong thời gian chung sống vợ chồng chỉ có tài sản chung là xe ô tô trả góp ngoài ra không có tài sản chung, riêng nào khác. Bà N vay tiền để cho vay lại là việc làm riêng và tạo thu nhập riêng cho bà N, ông không liên quan nên không đồng ý liên đới trả theo yêu cầu của bà P. Ông và bà N hiện đã ly hôn theo Quyết định số 18/2024/QĐCNTTLH ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc nên hiện không còn là vợ chồng. Khi còn là vợ chồng thì ông và bà N sống chung nhà, ăn uống sinh hoạt chung và cùng nuôi con. Sau khi ly hôn thì ông ở chung nhà cha mẹ ruột và bà N cùng ba người con ở chung nhà bên mẹ ruột của bà N.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc quyết định:
Căn cứ vào các Điều 21, 26, 35, 39, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Cụ thể tuyên:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị P.
Buộc bà Phan Thị Cẩm N phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Dương Thị P tổng số tiền vay là 317.321.000 đồng [trong đó số tiền vốn gốc là 217.331.000 đồng và 99.990.000 đồng (tiền lãi suất của số tiền 167.320.000 đồng là tiền lãi tính từ ngày 30/7/2021 dương lịch đến ngày 30/7/2024 dương lịch là 36 tháng theo mức lãi suất 1,66%/tháng).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, nguyên đơn bà Dương Thị P kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 theo hướng chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của bà.
Ngày 02 tháng 10 năm 2024, bị đơn bà Phan Thị Cẩm N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Dương Thị P về việc buộc bà phải trả cho bà P số tiền lãi là 99.990.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Dương Thị P giữ nguyên kháng cáo và yêu cầu khởi kiện; không đồng ý kháng cáo của bị đơn. Bị đơn thay đổi kháng cáo, thừa nhận nợ tiền lãi nhưng xin nguyên đơn giảm 50% tiền lãi, bị đơn chỉ đồng ý trả tiền lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng theo thời gian tính lãi mà Tòa sơ thẩm đã nhận định và không đồng ý kháng cáo của nguyên đơn. Các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, kháng cáo của nguyên đơn và kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, tuyên không chấp nhận kháng cáo của bà Dương Thị P; không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Cẩm N. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bà Dương Thị P và xét kháng cáo của bà Phan Thị Cẩm N, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Dương Thị P, bị đơn bà Phan Thị Cẩm N kháng cáo và gửi thủ tục kháng cáo hợp lệ trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
- [1] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Thị P:
- [1.1] Nguyên đơn bà Dương Thị P và bị đơn bà Phan Thị Cẩm N đều trình bày thống nhất bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số tiền vay là 317.321.000 đồng; trong đó: tiền vốn gốc là 217.331.000 đồng và tiền lãi suất của số tiền 167.320.000 đồng là 99.990.000 đồng (tiền lãi tính từ ngày 30/7/2021 dương lịch đến ngày 30/7/2024 dương lịch là 36 tháng theo mức lãi suất 1,66%/tháng), đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã vi phạm hợp đồng vay tài sản do không thanh toán nợ gốc và lãi cho nguyên đơn khi nợ đến hạn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên cho vay nên bà Phấn khởi K1 yêu cầu bà N phải hoàn trả cho bà P số nợ vay nêu trên là có cơ sở chấp nhận, do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà P, buộc bà N trả cho bà P số nợ vay tổng cộng 317.321.000 đồng là có căn cứ.
- [1.2] Bà P kháng cáo yêu cầu ông Trần Thế L1 có nghĩa vụ liên đới cùng với bà N để trả nợ vay cho bà P, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại biên bản đối chất ngày 23/7/2024 bà N cho rằng mục đích vay tiền của bà P để cho vay lại và kinh doanh bất động sản (Bút lục 34- 35). Xét thấy, việc bà N vay tiền để cho vay lại, kinh doanh bất động sản là từ ngày 30/5/2021, việc cho vay lại, kinh doanh bất động sản của bà N diễn ra trong thời gian dài và trong thời kỳ hôn nhân giữa bà N với ông L1; đến ngày 22/4/2024 bà N và ông L1 mới ly hôn; bà N và ông L1 không có văn bản thỏa thuận tài sản riêng nên buộc có nghĩa vụ liên đới. Bà N kháng cáo cho rằng ông L1 không biết nên không có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà P là không phù hợp. Mặt khác, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2022/DS-ST ngày 26/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre do phía bị đơn bà N cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện nội dung bà Phan Thị Cẩm N trình bày như sau: “Vào ngày 23/6/2021 bà cho ông Nguyễn Mai Hữu T vay số tiền 1.350.000.000 đồng, thời hạn vay 05 ngày, lãi suất 2%/tháng; Ngày 06/7/2021 bà có cho ông T vay số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay 10 ngày, lãi suất 2%/tháng; Ngày 28/7/2021 bà có cho ông T vay 120.000.000 đồng, vay 05 ngày, lãi suất 2%/tháng”. Xét thấy, việc vay tiền của bà N để kinh doanh bất động sản và cho vay lại cũng nhằm phục vụ trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình theo quy định tại Điều 27, 30, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, nguyên đơn bà Dương Thị P kháng cáo yêu cầu ông Trần Thế L1 có nghĩa vụ liên đới cùng bà Phan Thị Cẩm N trả số nợ vay nêu trên là có cơ sở để chấp nhận.
- [2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Cẩm N không đồng ý trả cho bà P số tiền lãi 99.990.000 đồng: Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm bà N thay đổi kháng cáo, bà N thừa nhận có nợ nguyên đơn bà Dương Thị P số tiền lãi 99.990.000 đồng, bà N xin nguyên đơn giảm 50% tiền lãi, bà N chỉ đồng ý trả tiền lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng tính theo thời gian mà Tòa sơ thẩm đã nhận định. Nhận thấy, hợp đồng vay giữa hai bên có thỏa thuận về lãi suất, phía bị đơn đã vi phạm hợp đồng vay tài sản do không thanh toán nợ gốc và tiền lãi cho nguyên đơn khi nợ đến hạn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay là bà N, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên cho vay là bà P, nên bà P yêu cầu bà N trả lãi suất là phù hợp quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà P, buộc bà N trả cho bà P số tiền lãi 99.990.000 đồng (tính từ ngày 30/7/2021 dương lịch đến ngày 30/7/2024 dương lịch là 36 tháng theo mức lãi suất 1,66%/tháng) là có căn cứ. Bà N kháng cáo xin giảm tiền lãi nhưng phía bà P không đồng ý. Vì vậy, kháng cáo của bà N là không có cơ sở để chấp nhận.
- [3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre có một phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
- [4] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà P; không chấp nhận kháng cáo của bà N. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà P. Buộc bà N và ông L1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà P số nợ vay theo bản án sơ thẩm đã tuyên. Sửa phần án phí sơ thẩm: Buộc bà N và ông L1 có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
- [5] Về án phí phúc thẩm:
- [5.1] Do kháng cáo của bà P được chấp nhận nên bà P không phải chịu án phí phúc thẩm.
- [5.2] Do kháng cáo của bà N không được chấp nhận nên bà N phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Thị P;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Cẩm N;
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 79/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre;
Căn cứ vào các Điều 21, 26, 35, 39, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 27, 30, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị P.
Buộc bà Phan Thị Cẩm N và ông Trần Thế L1 phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Dương Thị P tổng số tiền vay là 317.321.000 đồng (Ba trăm mười bảy triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn đồng). Trong đó: số tiền vốn gốc là 217.331.000 đồng (Hai trăm mười bảy triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn đồng) và tiền lãi là 99.990.000 đồng (Chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) (tiền lãi suất của số tiền 167.320.000 đồng là tiền lãi tính từ ngày 30/7/2021 dương lịch đến ngày 30/7/2024 dương lịch là 36 tháng theo mức lãi suất 1,66%/tháng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- Buộc bà Phan Thị Cẩm N và ông Trần Thế L1 phải có nghĩa vụ liên đới chịu án phí số tiền là 15.866.000 (Mười lăm triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
- Hoàn trả cho bà Dương Thị P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003152 ngày 12/3/2024 và 2.499.000 đồng (Hai triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004560 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
- Về án phí phúc thẩm:
- Bà Phan Thị Cẩm N phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền mà bà N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004451 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
- Bà Dương Thị P được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004435 ngày 16/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phan Thanh Tòng Lê Văn Phận |
Phạm Văn Ngọt |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Ngọt |
Bản án số 621/2024/DS-PT ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 621/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
