|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số 620/2024/DS-PT
Ngày 13/12/2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng,
hợp đồng thế chấp tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam
Các Thẩm phán: Ông Phùng Hải Hiệp
Ông Bùi Anh Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Trần Thị Minh Ngọc, Kiểm sát viên cao cấp;
Ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 423/2024/TLPT-DS ngày 26/8/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản” do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 22/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 13326/2024/QĐPT ngày 28 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phan Công H, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1969; địa chỉ: Số C, đường P, TDP Đ, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh (ông H có mặt, bà H1 vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Công L, sinh năm 1953; địa chỉ: Căn hộ A; tòa nhà B, khu chung cư N, quận C, thành phố Hà Nội; theo các Giấy ủy quyền ngày 06/8/2018 và ngày 15/5/2023, 06/6/2023 (Có mặt).
- Bà Đoàn Thị Diễm K, sinh năm 1973; địa chỉ: 1 đường C, thành phố Đà Nẵng, theo Giấy ủy quyền ngày 24/6/2024 (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Huy H2, Công ty L3, Đoàn Luật sư thành phố Đ, có mặt.
Bị đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần N
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trường H3, Phó ban xử lý nợ (Có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Văn H4 (sinh năm 1968) và bà Phan Thị L1 (sinh năm 1970); nơi ĐKHKTT: Số nhà A, đường T, TDP E, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; hiện đang sinh sống tại Cộng hòa S (vắng mặt).
- Bà Phan Thị H5, sinh năm 1964; địa chỉ: Số nhà I, đường T, TDP E, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Chị Lê Thị Thanh H6, sinh năm 1993; anh Lê Việt T, sinh năm 1987; đều là con bà Phan Thị H5; đều có địa chỉ: Số nhà I, đường T, TDP E, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang sinh sống tại Cộng hòa Séc và có văn bản xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H4, bà L1, bà H5: Ông Nguyễn Công L, địa chỉ: Căn hộ A; tòa nhà B, khu chung cư N, quận C, thành phố Hà Nội theo Giấy ủy quyền ngày 29/01/2024; và Bà Đoàn Thị Diễm K, sinh năm 1973; địa chỉ: 1 đường C, thành phố Đà Nẵng, theo Giấy ủy quyền ngày 07/10/2024 và ngày 23/9/2024 (đều có mặt).
- Chị Phan Thị Huyền T1, sinh năm 1993; chị Phan Thị Hiền L2, sinh năm 1995; anh Phan Công H7, sinh năm 1998; anh Phan Công Đ, sinh năm 2000; đều là con ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1; đều ĐKHKTT: TDP Đ, phường Đ, thị xã H, Hà Tĩnh; hiện đang sinh sống tại Cộng hòa S, đều vắng mặt và ủy quyền cho ông Nguyễn Công L, sinh năm 1953; địa chỉ: Căn hộ A, tòa nhà B, khu chung cư N, quận C, thành phố Hà Nội, theo Giấy ủy quyền ngày 22/5/2023 (Có mặt);
- Anh Phan Văn A, sinh năm 1993; chị Phan Thị Khánh H8, sinh năm 1995; chị Phan Thị Thanh H9, sinh năm 2001; anh Phan Văn A1, sinh năm 2002; đều là con ông Phan Văn H4 và bà Phan Thị L1, đều ĐKHKTT: TDP Đ, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; đều hiện đang sinh sống tại Cộng hòa S và đều có văn bản xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Huy H10 - Luật sư Công ty L3- Đoàn Luật sư thành phố Đ (Có mặt)
- Người làm chứng:
- Công ty cổ phần V; địa chỉ: K, phường B, thị xã H, Hà Tĩnh (Ông Phan Công H, Chủ tịch HĐQT, vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1981; địa chỉ TDP F, phường N, thị xã H Hà Tĩnh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 08/3/2019, đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Phan Công H trình bày:
Ngày 14/5/2015, Ngân hàng Thương mại cổ phần N (sau đây viết tắt là V1) đã gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh yêu cầu Tòa án buộc gia đình ông thanh toán khoản nợ là 8.095.088.064đ. Ngày 23/6/2015, Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh đã mở phiên tòa sơ thẩm, quá trình thẩm vấn, phía Ngân hàng không đưa ra được tài liệu chứng minh quyền đòi nợ của mình nên đã rút đơn khởi kiện. Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 02/2016/QĐST-DS ngày 30/3/2016 (BL379). Ông H, bà H1 cho rằng, Ngân hàng chỉ có các tài liệu chứng cứ chứng minh bên ông H, bà H1 thực hiện việc ký hợp đồng tín dụng gồm: HĐTD số 34/2012/3016 ngày 06/01/2012; HĐTD số 34/2012/3142 ngày 11/4/2012; HĐTD số 34/2012/3511 ngày 21/09/2012; HĐTD số 34/2012/3555 ngày 08/11/2012; HĐTD số 34/2012/3017/TDK ngày 06/01/2012; HĐTD số 34/2011/2021/TDK ngày 04/11/2012 (Hợp đồng này sau được xác định lại là số 08 chứ không phải số 34); HĐTD số 34/2012/3214 ngày 13/6/2012; HĐTD số 34/2012/3551/TDK ngày 05/11/2012 và các hợp đồng thế chấp tài sản gồm: HĐTC Đ01 ngày 19/5/2011; HĐTC Đ01 ngày 10/01/2011, HĐTC Đ01 ngày 10/11/2010 (Tại đơn yêu cầu xét xử lại vụ án ngày 01/4/2022 ông H, bà H1 đã xác định lại các hợp đồng thế chấp để đảm bảo các khoản vay tại các hợp đồng tín dụng trên gồm 04 hợp đồng thế chấp, cụ thể là: 02 hợp đồng thế chấp của vợ chồng ông H, bà Hằng số Đ02/2010 ngày 10/11/2010 và số Đ01/2011 ngày 10/01/2011; Hợp đồng thế chấp số Đ01/2010 ngày 10/11/2010 của vợ chồng ông H4, bà L1; Hợp đồng thế chấp số Đ02/2011 ngày 07/01/2010 của bà Phan Thị H5) mà không có tài liệu chứng minh việc Ngân hàng đã giao khoản tiền vay nợ theo các hợp đồng tín dụng cho ông, bà. Ông, bà thừa nhận tất cả 08 hợp đồng tín dụng với tổng số tiền vay như Ngân hàng nêu nói trên và các giấy tờ liên quan kèm theo như giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ, giấy nhận nợ, giấy đề nghị rút vốn, giấy ủy nhiệm chi, các biên bản làm việc thống nhất với Ngân hàng về việc chốt các khoản nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn có tại hồ sơ...đều do vợ chồng ông ký nhưng hồ sơ giải ngân không có bản kê các loại tiền người vay nhận. Mặt khác, ông đã nhiều lần yêu cầu Ngân hàng cung cấp các tài liệu giải ngân nhưng Ngân hàng không cung cấp mà trả lời đã nộp tại Tòa án. Vì vậy, vợ chồng ông ký 08 hợp đồng tín dụng và các giấy tờ liên quan trên nhưng vợ chồng ông không được nhận tiền, thời hiệu khởi kiện đã hết nên không nhất trí trả nợ tiền gốc, tiền lãi, lãi quá hạn của 08 hợp đồng tín dụng nói trên như yêu cầu phản tố của Ngân hàng.
Đối với 04 hợp đồng hợp đồng thế chấp nói trên và đơn đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất là để bảo đảm bảo tất cả các khoản vay của vợ chồng ông tại Ngân hàng V1 chi nhánh B. Các hợp đồng thế chấp tài sản này đều do vợ chồng ông, vợ chồng ông H4 bà L1, bà H5 ký toàn bộ giấy tờ, hồ sơ thế chấp. Tuy nhiên, nguyên đơn cho rằng các tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại 04 hợp đồng thế chấp tài sản này là tài sản chung của hộ gia đình, nhưng tại hợp đồng thế chấp và đơn đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không có sự thỏa thuận thống nhất của những người con của bên nguyên đơn, của ông H4,
bà L1 và bà H5 là trái pháp luật nên ông H bà H1 làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết với các yêu cầu sau:
- Tuyên các hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 với Ngân hàng V1 chi nhánh B vô hiệu (tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ngày 14/11/2023 và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện về nội dung này).
- Tuyên ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 không nợ V1 hay V1 không có quyền đòi nợ ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1.
- Tuyên các hợp đồng thế chấp tài sản đã ký giữa hai bên là vô hiệu,
- Buộc V1 trả lại các Giấy CNQSD đất đang giữ cho bên nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Đoàn Thị Diễm K trình bày: 08 hợp đồng tín dụng nói trên ông H, bà H11 đều ký vào hợp đồng và các tài liệu liên quan như Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ, giấy nhận nợ yêu cầu rút vôn, giấy ủy nhiệm chi, các biên bản làm việc giữa Ngân hàng và vợ chồng ông H về thống nhất số tiền gốc lãi, lãi quá hạn còn nợ Ngân hàng, cam kết trả nợ... Nhưng những năm trước đó, vợ chồng ông H còn nhiều hợp đồng khác vay tiền của Ngân hàng V2, Ngân hàng V2 cho vợ chồng ông H vay số tiền tại 08 hợp đồng tín dụng trên là để vợ chồng ông H trả nợ các khoản vay các năm trước là vi phạm; mặt khác, mục đích vay thể hiện tại 08 hợp đồng đều là để làm nhà ở với số tiền lớn như vậy là không hợp lý, nên không chấp nhận yêu cầu phản tố đòi nợ của Ngân hàng, theo đó 04 hợp đồng thế chấp tài sản cũng vô hiệu nên yêu cầu Ngân hàng phải trả lại tài sản thế chấp tại 04 hợp đồng thế chấp đó cho vợ chồng ông H và người liên quan.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Công L trình bày: Vợ chồng ông H ký kết 08 hợp đồng tín dụng với V2 chi nhánh B vay số tiền như Ngân hàng nêu nhưng hồ sơ vay của Ngân hàng không có giấy kê các loại tiền, Ngân hàng chưa giao tiền cho vợ chồng ông H nên vợ chồng ông H không có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền nợ, gốc lãi... cho Ngân hàng như yêu cầu của Ngân hàng V2. Các tài sản thế chấp tại 04 hợp đồng thế chấp là tài sản chung của các gia đình nhưng khi thế chấp không có chữ ký của các con là vi phạm nên vô hiệu; do đó, yêu cầu Ngân hàng V2 trả lại tài sản đã thế chấp cho các gia đình.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Huy H10 trình bày: Số tiền mà Ngân hàng V2 chi nhánh B cho vợ chồng ông H vay tại 08 hợp đồng tín dụng nói trên là để nhằm che dấu nợ xấu khác vi phạm quy định của Ngân hàng nên vô hiệu và theo đó 04 hợp đồng thế chấp tài sản nói trên cũng vô hiệu. Do đó, yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu là vợ chồng ông H trả tiền nợ gốc tại 08 hợp đồng tín dụng trên cho Ngân hàng và không phải trả tiền lãi, còn Ngân hàng trả lại tài sản đã thế chấp cho vợ chồng ông H, vợ chồng ông H4-bà L1, bà H5.
Bị đơn là Ngân hàng TMCP N trình bày: Ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 có quan hệ tín dụng với Ngân hàng V1 chi nhánh B từ năm 2011 và đến
nay có tổng dư nợ theo 08 hợp đồng tín dụng tạm tính đến hết ngày 31/5/2022 là 13.939.711.875 đồng, trong đó:
Ông Phan Công H trực tiếp đứng ra ký kết 04 hợp đồng tín dụng, gồm:
- Hợp đồng cho vay số 34/2012/3016/TDK ngày 06/12/2012 với số tiền vay là 500.000.000đ, lãi suất vay tại thời điểm nhận nợ ngày 16/01/2012 là 19.0% năm;
- Hợp đồng cho vay số 34/2012/3142/TDK ngày 11/4/2012 với số tiền vay là 400.000.000đ, lãi suất tại thời điểm nhận nợ là 17,5% năm;
- Hợp đồng cho vay số 34/2012/3511/TDK ngày 21/9/2012 với số tiền vay là 250.000.000đ, lãi suất tại thời điểm nhận nợ là 14% năm (Đối với Hợp đồng này, ông Phan Công H mới nhận nợ tổng số tiền là 174.000.000₫);
- Hợp đồng cho vay số 34/2012/3555/DTK ngày 08/11/2012 với số tiền vay là 1.668.000.000đ, lãi suất tại thời điểm vay là 14,5% năm;
04 Hợp đồng tín dụng ông Phan Công H đứng ra ký kết đều nhằm mục đích xây dựng nhà ở và mua sắm nội thất gia đình. Lãi suất thỏa thuận điều chỉnh 03 tháng/1 lần, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất quá hạn là 150%. Tổng toàn bộ nợ gốc, nợ lãi và nợ lãi quá hạn của ông Phan Công H tạm tính đến ngày 31/5/2022 là 6.851.013.646 đồng.
Bà Nguyễn Thị Thúy H1 trực tiếp đứng ra ký kết 04 hợp đồng tín dụng, gồm:
- Hợp đồng cho vay số 08/2011/2021/TDH (theo Đơn khởi kiện của nguyên đơn là số 34/2011/2021/TDH ngày 04/11/2011) ngày 04/11/2011 với số tiền vay 600.000.000đ, lãi suất tại thời điểm vay là 19,5%. Bà H1 đã nhận nợ ba lần, tổng dư nợ gốc hiện tại còn 286.000.000đ, dư nợ lãi trong hạn và quá hạn là 460.548.486₫;
- Hợp đồng cho vay số 34/2012/3017/TDK ngày 06/01/2012 với số tiền vay là 870.000.000đ, lãi suất tại thời điểm vay là 19%;
- Hợp đồng cho vay số 34/2012/3214/TDK ngày 13/6/2012 với số tiền vay là 405.000.000đ, lãi suất tại thời điểm vay là 14,5%;
- Hợp đồng cho vay số 34/2012/3551/TDK ngày 05/11/2012 với số tiền vay 1.265.000.000đ, lãi suất tại thời điểm vay là 14%. Bà H1 đã nhận nợ hai lần, dư nợ gốc còn là 1.264.000.000đ, dư nợ lãi trong hạn và quá hạn là 1.855.801.722 đ.
04 Hợp đồng tín dụng bà Nguyễn Thị Thúy H1 đứng ra ký kết đều nhằm mục đích xây dựng nhà ở và mua sắm nội thất gia đình. Lãi suất thỏa thuận điều chỉnh 03 tháng/1 lần, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất quá hạn là 150%. Tổng toàn bộ nợ gốc, nợ lãi và nợ lãi quá hạn của bà Nguyễn Thị Thúy H1 tạm tính đến ngày 31/5/2022 là 7.088.698.229 đồng.
Để bảo đảm cho các khoản vay của mình, ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 cùng các ông bà: ông Phan Văn H4-bà Phan Thị L1, bà Phan Thị H5 đã ký kết các hợp đồng thế chấp theo đó đã thế chấp các tài sản là quyền sử dụng đất cụ thể:
- 01 Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số AD 233307, do UBND thị xã H cấp ngày 31/8/2005 mang tên hộ ông Phan Văn H4 bà Phan Thị L1 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ01/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Văn H4, bà Phan Thị L1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B
- 01 Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số BB431737, do UBND thị xã H cấp ngày 04/10/2010 mang tên ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- 01 Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số BB 431738, do UBND thị xã H cấp ngày 04/10/2010 mang tên ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- 01 Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số BB431739, do UBND thị xã H cấp ngày 04/10/2010 mang tên ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- 01 Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số BB431740, do UBND thị xã H cấp ngày 04/10/2010 mang tên ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- 01 Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số AD233012, do UBND thị xã H cấp ngày 28/7/2005 mang tên hộ ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ01/2011/VCB.Hti ngày 10/11/2011 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- 01 Quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số AM095021, do UBND thị xã H cấp ngày 21/4/2008 mang tên bà Phan Thị H5 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2011/VCB.Hti ngày 07/01/2010 ký giữa bà Phan Thị H5 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
Sau khi ký kết các hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản nói trên, phía ông H, bà H1 đã nhận giải ngân số tiền vay theo đúng thỏa thuận. Nhưng quá trình thực hiện hợp đồng, ông H, bà H1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc, nợ lãi đúng thời hạn (Quá trình thực hiện hợp đồng ông H bà H1 đã trả được một số tiền lãi của một số hợp đồng và 01 khoản nợ gốc 80.000.000 đồng của Hợp đồng số 08/2011/2021/TDK ngày 04/11/2011 và thể hiện đầy đủ trong các bản theo dõi lãi, sao kê tài khoản của vợ chồng ông H, bà H1 có tại hồ sợ vụ án). Phía Ngân hàng đã nhiều lần có văn bản yêu cầu ông H, bà H1 thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng. Nhưng ông H, bà H1 không thực hiện nên đã vi phạm nghĩa vụ đã cam kết làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của VCB, gây khó khăn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý,
thu hồi nợ. Do đó, ngày 20 và 22/7/2022 Ngân hàng V1 chi nhánh B có yêu cầu phản tố yêu cầu: Ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải thanh toán tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 22/5/2024 là 15.697.903.356 đồng (gồm nợ gốc là 5.567.000.000 đồng, nợ lãi là 6.938.687.668 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.192.215.688 đồng); buộc ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi trả hết số nợ gốc. Trường hợp ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 chi nhánh B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý các tài sản bảo đảm như đã nêu trên theo quy định pháp luật. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 chi nhánh B có quyền yêu cầu vợ chồng ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ phần chưa được thanh toán cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Đại diện Ngân hàng V2 khẳng định việc vợ chồng ông H, bà H1 ký kết 08 đồng tín dụng trên là hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo thủ tục pháp lý và đúng pháp luật, có đầy đủ tài liệu giải ngân và các tài liệu thể hiện vợ chồng ông H đã được giải ngân đầy đủ, vợ chồng ông H cũng đã trả một ít lãi và 01 khoản nợ gốc 80.000.000 đồng. Tại các biên bản làm việc yêu cầu vợ chồng ông H trả nợ, vợ chồng ông H đều thống nhất và thừa nhận số tiền gốc, lãi, lãi quá hạn còn nợ ngân hàng ghi tại biên bản làm việc, đều ký vào các bên bản làm việc và cam kết sẽ trả nợ (ví dụ như biên bản làm việc ngày 09/9/2015). Việc hồ sơ giải ngân thiếu bản kê các loại tiền không làm thay đổi bản chất hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên, không làm thay đổi việc ông H, bà H1 đã nhận đầy đủ tiền vay theo hợp đồng, không làm thay đổi nghĩa vụ trả nợ của ông H, bà H1 đối với Ngân hàng. Các hợp đồng tín dụng nói trên Ngân hàng ký kết với cá nhân vợ chồng ông H, bà H1 chứ không liên quan bất kỳ một công ty hay tổ chức nào khác. Việc ông Nguyễn Huy H10 là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng Ngân hàng và ông H, bà H1 ký 08 hợp đồng tín dụng và vay Ngân hàng số tiền trên là để trả các khoản vay khác của ông H, bà H1 trước đó nhằm che dấu nợ xấu là suy diễn và hoàn toàn không có cơ sở. Các hợp đồng thế chấp tài sản để bảo đảm tất cả các khoản vay của ông H, bà H1 tại ngân hàng nói trên đều tự nguyện, đảm bảo thủ tục quy định nên đảm bảo hiệu lực pháp luật và không có căn cứ vô hiệu như ý kiến phía nguyên đơn. Vì vậy, Ngân hàng không chấp nhận các nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Tòa án xem xét và buộc nguyên đơn trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn với tổng số tiền 15.697.903.356 đồng và xử lý tài sản thế chấp nếu không trả được nợ như đã nêu ở phần trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Văn H4, bà Phan Thị L1 trình bày: Vợ chồng ông có ký Hợp đồng thế chấp đất và nhà có tại thửa số 856, tờ bản đồ số 05; diện tích 261,55m² địa chỉ: phường B, thị xã H tại Giấy CNQSD đất số AD 233307, do UBND thị xã H cấp ngày 31/8/2005 mang tên hộ ông Phan Văn H4 bà Phan Thị L1 với Ngân hàng V1 để cho vợ chồng ông Phan Công H vay tiền. Sau khi ký hợp đồng thế chấp, quá trình giải ngân giữa Ngân hàng với ông H như thế nào, ông bà không rõ, còn bản
thân ông bà không được nhận khoản tiền nào từ Ngân hàng. Về tài sản thế chấp, do ông bà nhận chuyển nhượng từ năm 2005. Khi mua đã có căn nhà 02 tầng, còn nhà 05 tầng ông bà xây dựng năm 2010. Khi thế chấp hiện trạng tài sản đã có 01 nhà 06 tầng, 01 nhà 02 tầng và một hệ thống mái che. Hiện tại, tài sản có 01 ốt cà phê do người thuê mặt bằng ốp lại tường, làm trần thạch cao và lát gạch nền ốt. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, ông và bà đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.
- Chị Phan Thị Thanh H9, anh Phan Văn A1 trình bày: Toàn bộ nhà và đất tại thửa đất số 856 do bố mẹ anh chị là ông Phan Văn H4, bà Phan Thị L1 nhận chuyển nhượng từ người khác, thời điểm ông H4 bà L1 mua nhà và đất anh chị còn bé đang đi học, chưa có thu nhập nên chưa có đóng góp khoản nào vào việc tạo lập các tài sản trên. Việc ông H4, bà L1 thế chấp các tài sản trên cho gia đình ông Phan Công H vay tiền, các anh chị không biết cũng không có ý kiến gì. Anh, chị yêu cầu Tòa án buộc Ngân hàng trả lại Giấy CNQSD đất cấp cho ông H4, bà L1.
- Bà Phan Thị H5 trình bày: Năm 2011, bà có ký Hợp đồng thế chấp tài sản thế chấp đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 855, tờ bản đồ số 05, diện tích 294,7m² đã được UBND thị xã H cấp Giấy CNQSD đất số AM 095021 ngày 21/4/2008 mang tên bà Phan Thị H5 với Ngân hàng V1 cho gia đình ông Phan Công H vay tiền. Sau khi ký hợp đồng thế chấp, quá trình giải ngân giữa Ngân hàng với ông H như thế nào bà không rõ, còn bản thân bà không được nhận khoản tiền nào từ Ngân hàng. Về tài sản thế chấp do bà nhận chuyển nhượng của người khác từ năm 2000-2001, thời điểm đó bà đã ly hôn, khi nhận chuyển nhượng trên đất đã có nhà, sau đó bà đập đi xây lại ngôi nhà cùng hệ thống bếp và mái che hiện đang sống. Tất cả nguồn tiền bà nhận chuyển nhượng nhà đất và xây nhà đều của một mình bà vì lúc đó các con của bà còn bé đang đi học chưa có thu nhập gì nên chưa có đóng góp nào vào việc mua đất làm nhà. Vì vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, bà thống nhất còn yêu cầu phản tố của Ngân hàng V1 bà không đồng ý.
- Các anh chị Phan Thị Hiền L2, Phan Việt T3, Phan Thị Huyền T1, Phan Thị Khánh H8, Phan Văn A, Phan Công H7, Phan Văn Đ1, Phan Thị Thanh H12 đều khẳng định thời điểm ông H, bà H1, bà H5 được cấp Giấy CNQSD đất, các anh chị đều đang sinh sống trên đất, nhưng thời điểm ông H, bà H1, bà H5 ký Hợp đồng thế chấp đất, các anh chị không biết nên các anh chị yêu cầu Tòa án buộc Ngân hàng trả lại các Giấy CNQSD đất cho gia đình.
Người làm chứng Nguyễn Thị Thanh T2 trình bày: Chị nguyên là kế toán của Công ty Cổ phần V từ năm 2008 đến năm 2013, Chủ tịch HĐQT của Công ty là ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1. Công ty dừng hoạt động khoảng năm 2014 - 2015 gì đó, chị không nhớ rõ và không tái kinh doanh trở lại; số tài khoản 0201000594191 là của Công ty V hay không chị không nhớ rõ; còn số tài khoản 0641000003440 là của cá nhân chị T2. Chị xác nhận Ngân hàng V1 chi nhánh B đã thực hiện việc chuyển khoản số tiền như ủy nhiệm chi của ông Phan Công H và ủy nhiệm chi của bà Nguyễn Thị Thúy H1 vào số tài khoản của cá nhân chị là tài khoản số 0641000003440 với số tiền lần lượt là 1.668.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăn sáu mươi tám triệu đồng) và 1.170.000.000 đồng vào các ngày 08/11/2012, 29/11/2012.
Ông Phan Công H xác nhận số tài khoản 0201000594191 V1 là tài khoản của Công ty Cổ phần V, bản thân ông là Chủ tịch HĐQT Công ty.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 29/6/2023:
- Thửa đất số 31, tờ bản đồ QH, tại TDP D, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là TDP Đ, phường Đ, thị xã H) có tổng diện tích đất đo đạc 210m²; GCNQSDĐ mang tên ông Phan Công H. Trên đất có dãy hàng rào thép gai, cây chuối, trầm và cây đào. Không có công trình xây dựng trên đất, tài sản có giá trị. Tổng giá trị là 302.400.000 đồng.
- Thửa đất số 32, tờ bản đồ QH, tại TDP D, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là TDP Đ, phường Đ, thị xã H). Tổng diện tích đất: 210m², GCNQSDĐ mang tên ông Phan Công H. Trên đất có dãy hàng rào thép gai, cây chuối, trầm và cây đào. Không có công trình xây dựng trên đất, tài sản có giá trị. Giá trị thửa đất là: 302.400.000 đồng.
- Thửa đất số 33, tờ bản đồ QH, tại TDP D, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là TDP Đ, phường Đ, thị xã H) có tổng diện tích đất: 212m²; GCNQSDĐ mang tên ông Phan Công H. Trên đất có dãy hàng rào thép gai, cây chuối, trầm và cây đào. Không có công trình xây dựng trên đất, tài sản có giá trị. Giá trị thửa đất: 549.504.000₫.
- Thửa đất số 34, tờ bản đồ QH, tại TDP D, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là TDP Đ, phường Đ, thị xã H). Tổng diện tích đất: 212m²; GCNQSDĐ mang tên ông Phan Công H. Trên đất có dãy hàng rào thép gai, cây chuối, trầm và cây đào. Không có công trình xây dựng trên đất, tài sản có giá trị. Giá trị thửa đất: 549.504.000 đồng.
- Thửa đất số tại TDP D, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là TDP Đ, phường Đ, thị xã H). Tổng diện tích đất: 480m²; GCNQSDĐ số AD233012 mang tên hộ ông Phan Công H. Trên đất không có công trình xây dựng kiên cố, không có cây cối trên đất. Giá trị tài sản: 658.040.000 đồng.
- Thửa đất số 855, tờ bản đồ 05, tại TDP E, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. GCNQSDĐ mang tên bà Phan Thị H5. Tổng diện tích đất: 294,7m² (đất ở 140m², đất vườn 154,7m²). Trên đất có 01 nhà hai tầng; 01 nhà một tầng và 01 ki ốt kinh doanh. Trị giá thửa đất là 6.834.093.000 đồng. Trị giá: tài sản trên đất là 841.676.136 đồng. Tổng trị giá tài sản: 7.675.769.136 đồng.
- Thửa đất số 856, tờ bản đồ 05, tại TDP D, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. GCNQSDĐ mang tên hộ ông Phan Văn H4, bà Phan Thị Liệu T4 diện tích đất: 255m² (100m² đất ở và 155m² đất vườn). Trên đất có: là nhà 01 tầng (sử dụng làm quán kinh doanh cà phê) và một phần ở giữa là nhà 02 tầng; phía sau giáp UBND phường B là nhà ở 06 tầng. Trong nhà có các tài sản vật dụng sinh hoạt, kinh doanh. Giá trị thửa đất là 5.918.088.000 đồng; Giá trị tài sản trên đất là: 773.864.712 đồng. Tổng giá trị tài sản là 6.691.952.712 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 22/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 3 Điều 35; Điểm a, khoản 1 Điều 37; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 155, điều 157; Điều 158; Điều147; Điều 244, 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 108; Điều 122; Điều 474.
Điều 401, 402, 405, 715, 716, 717, 718, 719, 720, 721 BLDS 2005; khoản 2 điều 155; Điều 307; Điều 117; Điều 102; Điều 212; Điều 463; Điều 466; Điều 468; điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng Điều 130 Luật đất đai 2003; Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Đình chỉ yêu cầu tuyên bố các Hợp đồng tín dụng vô hiệu của nguyên đơn ông Phan Công H.
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của V1 chi nhánh B.
- Buộc vợ chồng ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải thanh toán cho V1 chi nhánh B tổng số tiền là 15.697.903.356đ (Trong đó số nợ gốc là 5.567.000.000đ nợ lãi là 6.938.687.668đ, nợ lãi quá hạn là 3.192.215.688đ). Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án sơ thẩm trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại 08 Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi vợ chồng ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 chi nhánh B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý các tài sản bảo đảm là các quyền sử dụng đất đã thế chấp gồm:
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số AD 233307, do UBND thị xã H cấp ngày 31/8/2005 mang tên hộ ông Phan Văn H4 bà Phan Thị L1 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ01/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Văn H4, bà Phan Thị L1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số BB431737, do UBND thị xã H cấp ngày 04/10/2010 mang tên ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số BB 431738, do UBND thị xã H cấp ngày 04/10/2010 mang tên ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số BB431739, do UBND thị xã H cấp ngày 04/10/2010 mang tên ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số BB431740, do UBND thị xã H cấp ngày 04/10/2010 mang tên ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số AD233012, do UBND thị xã H cấp ngày 28/7/2005 mang tên hộ ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ01/2011/VCB.Hti ngày 10/11/2011 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số AM095021, do UBND thị xã H cấp ngày 21/4/2008 mang tên bà Phan Thị H5 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2011/VCB.Hti ngày 07/01/2010 ký giữa bà Phan Thị H5 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải tiếp tục trả nợ phần chưa được thanh toán cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp số tiền phát mại tài sản thu được nhiều hơn số tiền phải thanh toán thì phải trả lại cho ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 17/6/2024, ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 có đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn là ông Phan Công H không rút đơn khởi kiện; giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và về cơ bản vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.
Bị đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần N về cơ bản giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà K về cơ bản giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, làm rõ khoản vay, nếu có vay thì đồng ý trả và đề nghị xem xét giảm nhẹ khoản lãi phải trả; ông L thì cho rằng nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện về việc tuyên vô hiệu đối với các hợp đồng tín dụng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn xem xét, và ngân hàng có yêu cầu phản tố yêu cầu thanh toán hơn 6 tỷ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết buộc nguyên đơn trả hơn 15 tỷ là vượt quá yêu cầu khởi kiện, nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn xuất trình bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, trình bày quan điểm như bản
luận cứ và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, hủy bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của ông Phan Công H trong thời gian luật định nên hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, kháng cáo của ông Phan Công H là không có căn cứ chấp nhận, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị đơn là V1 chi nhánh B là không chính xác, nên cần sửa án sơ thẩm về vấn đề này. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự xử không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Công H và sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ngày 03/6/2024, ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh là trong hạn luật định nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Ông Phan Công H khởi kiện yêu cầu tuyên các hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa Ngân hàng V1 chi nhánh B với ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 là vô hiệu; yêu cầu tuyên Ngân hàng V1 không có quyền đòi nợ bên nguyên đơn; buộc V1 trả lại các Giấy CNQSD đất đang giữ cho bên nguyên đơn. Tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ngày 14/11/2023, ông Phan Công H đề nghị rút yêu cầu khởi kiện đề nghị hủy bỏ hay tuyên 08 hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng V1 chi nhánh B với ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 vô hiệu và giữ nguyên các yêu cầu còn lại. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phan Công H là tự nguyện không ai ép buộc, phù hợp các quy định pháp luật, phía bị đơn không có ý kiến gì, nên căn cứ khoản 2 Điều 244 BLTTDS, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông H, bà H1 và đình chỉ yêu cầu khởi kiện đề nghị tuyên bố các Hợp đồng tín dụng vô hiệu của ông H, bà H1 là đúng.
[1.3] Sau khi Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh thụ lý để xét xử sơ thẩm lại thì ngày 20/7/2022, Ngân hàng V1 chi nhánh B có yêu cầu phản tố buộc ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/5/2024 là 15.697.903.356đ (gồm nợ gốc là 5.567.000.000đ, nợ lãi là 6.938.687.668đ, nợ lãi quá hạn là 3.192.215.688đ). Buộc ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi trả hết số nợ gốc. Trường hợp ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 chi nhánh B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý các
tài sản bảo đảm như đã nêu trên theo quy định pháp luật. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 chi nhánh B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sử hữu, sử dụng của ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật. Ngày 17/8/2022, Tòa án mới tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông H, bà H1 cũng như người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà H1 cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện; và việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn là trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật.
[1.4]. Quyết định giám đốc thẩm số 71/2021/DS-GĐT ngày 17/9/2021 tuyên “Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh giải quyết”, nhưng do vụ án có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ở nước ngoài, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 41 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh chuyển vụ án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xem xét, giải quyết là đúng quy định pháp luật.
Do vụ án có yếu tố nước ngoài, có tính chất phức tạp, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đông, lại ở nước ngoài nên sau khi hết thời hạn giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành quyết định gia hạn thời hạn giải quyết vụ án thêm hai tháng kể từ ngày 08/02/2024 và ngày 29/3/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định.
[1.5]. Về thời hiệu khởi kiện: Quan hệ tranh chấp giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản. Theo quy định tại Điều 429 BLDS 2015 quy định về thời khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 3 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tuy nhiên tại các hợp đồng tín dụng đều quy định về lãi suất nợ quá hạn và theo quy định tại khoản 10.2 và khoản 10.3 Điều 10 Điều khoản thi hành của 08 hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết thì “Hợp đồng này có hiệu lực kể từ ngày ký hoặc ngày có hiệu lực của Hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh tài sản (nếu có) cho đến khi bên vay trả hết nợ (gồm cả nợ gốc, lãi, các khoản tiền phạt và chi phí khác nếu có)” “Khi bên vay trả hết nợ gốc, nợ lãi và các chi phí phát sinh khác (nếu có) theo Hợp đồng này, thì Hợp đồng này mặc nhiên được thanh lý”. Như vậy, hiệu lực của 08 hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên có hiệu lực kể từ thời điểm các bên ký kết hợp đồng vào các năm 2011, 2012 kéo dài cho đến khi bên vay là ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 trả hết các khoản nợ phát sinh. Tuy nhiên, cho đến nay, bên vay chưa thực hiện xong nghĩa vụ theo quy định của Hợp đồng, do đó, hiệu lực của 08 hợp đồng tín dụng chưa chấm dứt và các bên vẫn đang trong quá trình thực hiện hợp đồng. Hơn nữa, tại Biên bản làm việc ngày 09/9/2015, Ngân hàng V1 chi nhánh B và ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 đã xác nhận tổng dư nợ gốc và lãi của ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 tạm tính đến ngày 08/9/2015 là 5.567.000.000 đồng tiền gốc và 2.528.088.064 đồng tiền lãi. Tổng là 8.095.088.064 đồng. Việc ghi tạm tính có nghĩa dư nợ lãi của ông H bà H1 tại ngân hàng sẽ tiếp tục phát sinh theo thời gian ông H, bà H1 chậm thực hiện
nghĩa vụ trả nợ. Mặt khác, các tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông H bà H1 và các bên thế chấp vẫn đang do Ngân hàng nắm giữ; các yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố liên quan đến quyền sở hữu tài sản nên theo quy định tại khoản 2 Điều 155, điểm d khoản 1 Điều 668 BLDS 2015, Tòa án cấp sơ thẩm các định thời hiệu khởi kiện đối với các hợp đồng tín dụng cũng như Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký kết vẫn còn là có căn cứ.
[1.6] Về người tham gia tố tụng: Ông Phan Công H có yêu cầu triệu tập đại diện Công ty cổ phần V, các công chứng viên liên quan đến công chứng 04 hợp đồng thế chấp tài sản nói trên tham gia tố tụng. Xét thấy, khi ký kết 08 hợp đồng tín dụng và 04 hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên thì ông Phan Công H là Chủ tịch Hội đồng quản trị, hợp đồng được công chứng thực hiện đúng quy định, nay Công ty đã ngừng hoạt động và ông H có mặt tại phiên tòa; tại các biên bản lấy lời khai những người ký kết hợp đồng thế chấp đều thừa nhận có tự nguyện ký vào hợp đồng để đảm bảo cho hợp đồng vay. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của ông H, bà H1 là có căn cứ.
[1.9] Tại phiên tòa phúc thẩm, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lê đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do hoặc có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 (do bà Đoàn Thị Diễm K là đại diện theo ủy quyền) thì thấy:
[2.1]. Theo các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa thì có căn cứ xác định vợ chồng ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 có ký 08 hợp đồng tín dụng với Ngân hàng V1 chi nhánh B, gồm: Hợp đồng cho vay số 34/2012/3016/TDK ngày 06/01/2012 với số tiền vay là 500.000.000đ; Hợp đồng cho vay số 34/2012/3142 /TDK ngày 11/4/2012 với số tiền vay là 400.000.000 đồng; Hợp đồng cho vay số 34/2012/3511/TDK ngày 21/9/2012 với số tiền vay là 250.000.000 đồng; Hợp đồng cho vay số 34/2012/3555/DTK ngày 08/11/2012 với số tiền vay là 1.668.000.000đ; Hợp đồng cho vay số 08/2011/2021/TDH ngày 04/11/2011 với số tiền vay 600.000.000 đồng; Hợp đồng cho vay số 34/2012/3017/TDK ngày 06/01/2012 với số tiền vay là 870.000.000 đồng; Hợp đồng cho vay số 34/2012/3214/TDK ngày 13/6/2012 với số tiền vay là 405.000.000 đồng; Hợp đồng cho vay số 34/2012/3551 /TDK ngày 05/11/2012 với số tiền vày 1.265.000.000 đồng. Các hợp đồng tín dụng nêu trên đều được các chủ thể có năng lực pháp luật đầy đủ, tự nguyện ký kết, nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật và được công chứng hợp pháp. Tuy tại phiên hòa giải ngày 14/11/2023, ông H xin rút yêu cầu tuyên vô hiệu đối với các hợp đồng tín dụng nêu trên, nhưng để giải quyết các yêu cầu còn lại của nguyên đơn Tòa án cấp sơ thẩm vẫn căn cứ vào Điều 122 BLDS 2005; Điều 117 BLDS 2015 để xác định 08 Hợp đồng tín dụng nêu trên có hiệu lực pháp luật là đúng và có căn cứ.
[2.2]. Ông Phan Công H cho rằng mặc dù vợ chồng ông đã ký kết các hợp đồng tín dụng và các hợp đồng thế chấp đảm bảo cho các khoản vay theo các hợp
đồng tín dụng đó nhưng vợ chồng ông chưa nhận được khoản giải ngân nào từ phía Ngân hàng. Xem xét các chứng từ do Ngân hàng V1 chi nhánh B xuất trình tại hồ sơ thì ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 có 08 hợp đồng tín dụng với 13 lần nhận nợ trong đó có 10 lần rút tiền mặt và 03 lần ủy nhiệm chi với tổng số tiền nhận nợ là 5.647,000,000 đồng. Trong đó có một lần nhận nợ với khoản dư nợ 80.000.000 đồng, phía ông H đã tất toán cả gốc và lãi nên dư nợ gốc còn lại là 5.567.000.000 đồng. Quá trình giải quyết, tại bản khai ngày 23/10/2023, chính ông Phan Công H đã khẳng định chữ ký mang tên Phan Công H và Nguyễn Thị Thúy H1 tại các hợp đồng tín dụng, các giấy đề nghị rút vốn, các giấy rút tiền, các giấy nhận nợ, ủy nhiệm chỉ có tại hồ sơ chính xác là của ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 ký ra. Mặt khác, ngoài các giấy nhận nợ, giấy rút tiền, đơn đề nghị gia hạn thời gian rút vốn và ủy nhiệm chi nêu trên thì giữa Ngân hàng V1 chi nhánh B và ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 đã nhiều lần lập các biên bản làm việc trong đó hai bên đã bàn bạc về kế hoạch và lộ tình trả nợ, chốt tổng số dư nợ của vợ chồng ông H, bà H1 tại ngân hàng, cụ thể là các Biên bản làm việc ngày 05/6/2012, Biên bản làm việc ngày 02/12/2013, Biên bản làm việc ngày 25/12/2013. Tại Biên bản làm việc lập ngày 09/9/2015 giữa Ngân hàng V1 chi nhánh B với ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 thì hai bên đã xác nhận tổng dư nợ gốc và lãi của ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 tạm tính đến ngày 08/9/2015 là 5.567.000.000đ tiền gốc và 2.528.088.064 đồng tiền lãi, tổng nợ là 8.095.088.064 đồng. Bên cạnh đó, tại bản khai ngày 25/8/2023, bà Nguyễn Thị Thanh T2 khẳng định, Ngân hàng V1 đã hai lần chuyển tiền vào số tài khoản 0641000003440 mang tên Nguyễn Thị Thanh T2 với số tiền lần lượt là 1.668.000.000 đồng và 1.170.000.000 đồng vào các ngày 08/11/2012 và 29/11/2012 theo ủy nhiệm chi của ông Phan Công H. Ngoài ra, ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho việc ông chưa nhận được giải ngân các khoản vay từ Ngân hàng, hoặc tài liệu, chứng cứ thể hiện ông bà bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự hay bị cưỡng ép, lừa dối khi khi ký kết các văn bản này. Hơn nữa, nếu như ông H, bà H1 chưa được nhận giải ngân các khoản vay nợ thì không có lý do gì ông bà ký vào các văn bản nhận nợ đã nêu trên. Việc hồ sơ giải ngân thiếu bản kê các loại tiền không làm thay đổi bản chất hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên, không làm thay đổi việc ông H, bà H1 đã nhận đầy đủ tiền vay theo hợp đồng tín dụng, không làm thay đổi nghĩa vụ trả nợ của ông H, bà H1 đối với Ngân hàng. Các hợp đồng tín dụng nói trên ngân hàng ký kết với cá nhân vợ chồng ông H, bà H1 chứ không liên quan bất kỳ một công ty hay tổ chức nào khác; việc bà Đoàn Thị Diễm K, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Nguyễn Huy H10, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng ông H, bà H1 ký 08 hợp đồng tín dụng nêu trên với Ngân hàng và vay Ngân hàng số tiền trên là để trả các khoản vay khác, trước đó của ông H, bà H1 nhằm che dấu nợ xấu là không có cơ sở chấp nhận; đồng thời ông H10 đề nghị ông H được trả nợ gốc là cũng đã thừa nhận vợ chồng ông H đã nhận đầy đủ số tiền vay của Ngân hàng theo 08 hợp đồng tín dụng nói trên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận việc ông H, bà H1 cho rằng ông bà ký vào 08 Hợp đồng tín dụng nhưng chưa nhận được giải ngân các khoản vay là có cơ sở; từ đó xác định ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 có quan hệ vay nợ của Ngân hàng V1 chi nhánh B và buộc ông H, bà H1 phải có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng V1 chi nhánh B là đúng quy định về
nghĩa vụ của bên vay nợ theo Điều 466 BLDS và Điều 5 của 08 Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do vậy cũng không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông H, bà H1 về nội dung vay tại các hợp đồng tín dụng là không phù hợp với thực tế, yêu cầu thu thập chứng cứ nhận tiền.
[2.3] Đối với yêu cầu buộc ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/5/2024 là 15.697.903.356 đồng (Trong đó số nợ gốc là 5.567.000.000 đồng, nợ lãi là 6.938.687.668 đồng, nợ lãi quá hạn là 3.192.215.688 đồng). Buộc ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi trả hết số nợ gốc của Ngân hàng V1 chi nhánh B.
Như trên đã phân tích thì 08 hợp đồng tín dụng ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 đã ký với Ngân hàng V1 chi nhánh B và các giấy nhận nợ, giấy rút tiền, ủy nhiệm chi kèm theo đều có hiệu lực pháp luật, nên có căn cứ xác định ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 có quan hệ vay nợ với Ngân hàng V1 chi nhánh B. Ngân hàng V1 cho rằng từ khi hết hạn các hợp đồng tín dụng đến nay, phía ông H, bà H1 chưa thanh toán đủ các khoản dư nợ gốc nào cũng như các khoản dư nợ lãi cho Ngân hàng là vi phạm về nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết và Điều 474 BLDS 2005; Điều 466 BLDS 2015. Nay Ngân hàng yêu cầu ông H, bà H1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ theo quy định pháp luật, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ.
Xét mức lãi suất trong hạn cũng như mức lãi suất quá hạn phía Ngân hàng V1 áp dụng với các khoản dư nợ của ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 tại các Hợp đồng tín dụng đã ký kết thì thấy: Do ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ gốc 5.567.000.000 đồng, Ngân hàng đã chuyển khoản nợ trên thành khoản nợ quá hạn lần lượt từ các ngày 23/9/2001, 07/01/2013, 13/03/2013, 13/6/2013, 01/4/2013, 27/9/2013, 05/11/2013, 08/11/2013, 29/11/2013 theo ngày đến hạn của các hợp đồng tín dụng và buộc ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải trả lãi theo Hợp đồng tín dụng là 150% năm theo quy định tại khoản 3.1, 3.2 Điều 3 của các hợp đồng tín dụng đã ký kết nên khoản tiền lãi trong hạn cộng dồn là 6.938.687.668 đồng và khoản tiền lãi quá hạn mà Ngân hàng tạm tính đến ngày 22/5/2024 là 3.192.215.688 đồng là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, Điều 8, Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của Ngân hàng về việc buộc ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải thanh toán cho Ngân hàng V3 tổng số tiền là 15.697.903.356 đồng và yêu cầu buộc ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi trả hết số nợ gốc của Ngân hàng V1 chi nhánh B là có căn cứ và không vượt quá yêu cầu phản tố của bị đơn.
[2.4] Xét yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án tuyên bố vô hiệu 04 Hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa Ngân hàng V1 chi nhánh B với ông Phan Công H và bà
Nguyễn Thị Thúy H1, với bà Phan Thị H5, với ông Phan Văn H4 và bà Phan Thị L1 và yêu cầu Ngân H13 chi nhánh B trả lại tài sản đã thế chấp là các Giấy CNQSDĐ thì thấy:
[2.4.1] Để đảm bảo cho các khoản vay của ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1, Ngân hàng V1 chi nhánh B đã nhận và ký 04 hợp đồng thế chấp gồm:
- Hợp đồng thế chấp số Đ01/2011/VCB.Hti ngày 10/01/2011, ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 ký, thế thấp quyền sử dụng thửa đất diện tích 480 m², tờ bản đồ số 01, tại xóm F, xã Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh đã được UBND thị xã H cấp Giấy CNQSDĐ số AD233012 ngày 28/7/2005 mang tên hộ ông Phan Công H cho Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- Hợp đồng thế chấp số Đ02/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010, ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 ký thế chấp quyền sử dụng đất của 04 thửa đất (gồm các thửa đất số 31, diện tích 210 m²; thửa đất số 32, diện tích 210 m²; thửa đất số 33, diện tích 212 m²; thửa đất số 34, diện tích 212 m²) đều thuộc tờ bản đồ số QH, tại khối F, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh và đã được UBND thị xã H cấp các Giấy CNQSD đất số BB431737, số BB431738, BB431739, BB431740 ngày 04/10/2010 đều mang tên ông Phan Công H.
- Hợp đồng thế chấp số Đ01/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010, ông Phan Văn H4 và bà Phan Thị L1 ký thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 856, tờ bản đồ số 05, diện tích 255,2m² tại khối E, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh đã được UBND thị xã H cấp Giấy CNQSD đất số AD233307 ngày 31/8/2005 mang tên hộ ông Phan Văn H4 - Phan Thị L1.
- Hợp đồng thế chấp số Đ02/2011/VCB.Hti ngày 07/01/2011, bà Phan Thị H5 ký thế chấp quyền sử dụng đất và các tài sản trên thửa đất số 855, tờ bản đồ số 05, diện tích 294,7m² tại khối E, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh đã được UBND thị xã H cấp Giấy CNQSD đất số AM095021 ngày 21/4/2008 mang tên bà Phan Thị H5.
[2.4.2] Ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (gồm: ông Phan Văn H4, bà Phan Thị L1, bà Phan Thị H5, chị Phan Thị Huyền T1, chị Phan Thị Hiền L2, anh Phan Công H7, anh Phan Công Đ, chị Phan Thị Khánh H8, anh Phan Văn A, chị Lê Thị Thanh H6, chị Phan Thị Thanh H9, anh Phan Văn A1) cũng như người đại diện theo ủy quyền của các đương sự là ông Nguyễn Công L cho rằng các tài sản thế chấp là các quyền sử dụng đất nói trên là tài sản chung được cấp cho hộ gia đình ông H, hộ gia đình ông H4, hộ gia đình bà H5. Những người con của hộ ông H, hộ ông H4 và hộ bà H5 đều có quyền lợi ngang nhau đối với các khối tài sản này; nhưng khi vợ chồng ông H và bà H1, vợ chồng ông H4 và bà L1 và bà H5 ký kết hợp đồng thế chấp với Ngân hàng thì những người con này không được biết; 04 hợp đồng thế chấp không có chữ ký của những người con này là trái quy định pháp luật. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, tại các bản khai ngày 23/10/2023 của ông Phan Công H; ngày 09/01/2024, của vợ chồng ông Phan Văn H4 và bà Phan Thị L1 và các con của ông H4, bà L1; ngày 09/01/2024, của bà Phan Thị H5 và con bà H5 đều khẳng định, các quyền sử dụng đất của ông H, của ông H4, bà L1 và của bà H5 mang vào thế chấp đều do vợ chồng ông H, vợ chồng ông H4 và bà H5 nhận chuyển nhượng lại của người khác vào các năm 1999, 2005, 2009, 2010. Nguồn tiền để nhận chuyển nhượng là của vợ chồng ông H và bà H1,
vợ chồng ông H4 và bà L1, của bản thân bà H5. Thời điểm nhận chuyển nhượng các quyền sử dụng đất nói trên, các con của ông H và bà H1; ông H4 và bà L1; các con của bà H5 đều đang còn nhỏ, đang còn đi học, chưa đi làm, chưa có sự đóng góp nào vào việc hình thành các tài sản này cũng như không có đóng góp nào vào việc xây dựng nhà cửa trên đất. Ngoài ra, tại biên bản xác minh tại Phòng TNMT thị xã H, Hà Tĩnh khẳng định, các thửa đất của ông H và bà H1 đều là tài sản nhận chuyển nhượng lại và hình thanh sau hôn nhân nên là tài sản chung vợ chồng chứ không phải là tài sản của hộ gia đình; cũng tương tự thửa đất của ông H4 và bà L1 cũng là tài sản nhận chuyển nhượng và trên hợp đồng chuyển nhượng chỉ có chữ ký của ông H4, bà L1 và là tài sản hình thanh sau hôn nhân nên là tài sản chung vợ chồng chứ không phải là tài sản của hộ gia đình. Đối với thửa đất của bà Phan Thị H5, là tài sản của bà H5 nhận chuyển nhượng lại vào năm 1999, sau khi đã ly hôn chồng theo Bản án số 49/1988 ngày 29/10/1988 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh và GCNQSDĐ đất cũng ghi cấp cho bà H5 nên quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là tài sản riêng của bà H5. Nên có cơ sở khẳng định các tài sản mà ông H và bà H1; vợ chồng ông H4 và bà L1; bà H5 đem thế chấp cho Ngân hàng V1 chi nhánh B nói trên là các tài sản chung của vợ chồng ông H và bà H1, của ông H4 và bà L1, và là tài sản riêng của bà H5 chứ không phải là các tài sản chung của hộ gia đình ông H, hộ gia đình ông H4 hay hộ gia đình bà H5 nên ông H, bà H1, ông H4, bà L1, bà H5 có toàn quyền được định đoạt đối với các tài sản đó theo quy định pháp luật mà không cần thiết phải có sự đồng ý của các con. Tất cả 04 hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên được các chủ thể có năng lực dân sự đầy đủ tham gia ký kết trên cơ sở tự nguyện, không ai bị lừa dối hay ép buộc và có đầy đủ biên bản giao nhận tài sản thế chấp giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp; về nội dung và hình thức đều được lập đúng theo quy định tại các Điều 401, 402, 715, 716, 717, 718, 719, 720 BLDS 2005; các bên chủ thể tham gia ký kết đều, không ai bị ép buộc hay lừa đối; sau khi ký kết hợp đồng, 07 quyền sử dụng đất của các bên đã được đăng ký thế chấp đúng quy định tại Điều 130 Luật đất đai 2003 nên có hiệu lực pháp luật và có giá trị bắt buộc đối với các bên đã ký kết. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên bố 04 hợp đồng thế chấp tài sản nói trên vô hiệu và Ngân hàng V1 chi nhánh B trả lại các tài sản đã thế chấp cho ông nguyên đơn và những người liên quan là có căn cứ; và không cần thiết phải lấy chữ ký của những thành viên khác trong gia đình của những người ký kết hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay của ông H, bà H1 nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông H, bà hằng (do bà K đại điện) về vấn đề này.
[2.4.3] Việc người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà H1 kháng cáo cho rằng: Tài sản của bà H5 đã thế chấp tại Hợp đồng thế chấp số Đ01 ngày 08/5/2009 để đảm bảo cho Hợp đồng cho vay bán lẻ số 09/5547 ngày 11/5/2009; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 25/01/2011 ghi “4.Hợp đồng thế chấp số Đ01/2011/VCB.HTi ký kết ngày 21/01/2011”, nhưng trong hồ sơ vụ án không có Hợp đồng thế chấp Đ01/2011; chữ viết, chữ ký trong hợp đồng thế chấp và đơn yêu cầu đăng ký thế chấp không phải của bà H5; thời điểm định giá tài sản (ngày 21/01/2011) có sau thời điểm thế chấp (ngày 07/01/2010) là không phù hợp; Hợp đồng thế chấp Đ02/2011 ngày 07/01/2010 không được đăng ký; những thay đổi sau khi được cấp Giấy CNQSDĐ thể hiện trên trang 4 giấy
CNQSDĐ cấp cho bà H5 khác với hồ sơ thế chấp, nên Hợp đồng thế chấp số Đ02/2011/VCB.Hti ngày 07/01/2011 vô hiệu. Tuy nhiên, tại các lời khai của mình bà H5 đều thừa nhận có ký vào các giấy tờ thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của ông H và bà H1; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp lập ngày 21/11/2011, nhưng ngày 25/01/2011 bà H5 mới được đăng ký; việc ghi “4.Hợp đồng thế chấp số Đ01/2011/VCB.HTi ký kết ngày 21/01/2011” là sai sót khi đánh máy, tài sản thế chấp ghi trong đơn yêu cầu đăng ký thế chấp đúng với tài sản bà H5 đem ra thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay của ông H, bà H1 tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số Đ02/2011/VCB.Hti ngày 07/01/2010, được Văn phòng C xác nhận ngày 25/01/2011; Hợp đồng thế chấp số 02/2011/VCB.Hti ngày 10/01/2010 đã được công chứng hợp pháp tại Phòng C1 tỉnh Hà Tĩnh nên hợp pháp và có hiệu lực bắt buộc thi hành với các bên liên quan. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà H1 về việc giám định chữ ký của bà H5 và những vấn đề nêu trên.
[3] Việc ông H, bà H1 cho rằng ông Nguyễn Trường H3 ký 02 hợp đồng tín dụng khi không làm Giám đốc V1 chi nhánh B là không đúng, bởi ông H3 vẫn là Giám đốc và ngân hàng chỉ thay đổi tên và địa điểm đặt trụ sở giao dịch, nên việc ông H3 ký hợp đồng tín dụng là hợp pháp.
[4] Đối với quán cà phê của anh Trần Văn H14 và chị Đặng Thị H15 kinh doanh trên mặt bằng của thửa đất số 856 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của vợ chồng ông Phan Văn H4 và bà Phan Thị L1: Theo anh H14 và chị H15 trình bày, quyền thuê mặt bằng cũng như các thiết bị trong quán là anh chị mua lại của chủ quán cà phê trước và có cải tạo thêm. Còn về quyền sử dụng đất vẫn thuộc ông H4, bà L1. Khi mua lại quyền thuê mặt bằng quán cà phê này, anh chị không biết thửa đất đã được thế chấp cho Ngân hàng. Quá trình mua bán, cũng như cải tạo thêm quán cà phê, anh chị không biết nên không báo lại cho Ngân hàng biết. Các quyền lợi của anh chị liên quan đến quán cà phê và quyền thuê mặt bằng, anh chị sẽ tự giải quyết với ông H4, bà L1 nên anh, chị đề nghị Tòa án không đưa anh chị tham gia tố tụng và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Sau này, nếu có tranh chấp, anh chị sẽ yêu cầu giải quyết thành một vụ án khác. Do đó, HĐXX không xem xét.
[5] Về chi phí tố tụng: Theo quy định tại Điều 155, 157, 158 Bộ luật tố tụng dân sự thì ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định định giá tài sản bao gồm: Chi phí thẩm định là 53.875.000 đồng; chi phí định giá là: 3.865.000 đồng. Tổng là 57.740.000 đồng. Ông H đã nộp tạm ứng trước số tiền là 30.000.000 đồng và Ngân hàng V1 chi nhánh B đã tạm ứng trước số tiền là 30.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải trả cho Ngân hàng 30.000.000 đồng và được nhận lại số tiền 2.260.000 đồng là có căn cứ.
Với các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ yêu cầu tuyên bố các Hợp đồng tín dụng vô hiệu của nguyên đơn ông Phan Công H; bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông H và bà H1 về việc tuyên ông H bà H1 không nợ V1, 04 hợp đồng thế chấp vô hiệu và buộc V1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp; chấp nhận yêu cầu phản
tố của V1 buộc nguyên đơn phải thanh toán cả gốc và lãi cho V1 theo 08 hợp đồng tín dụng đã ký là đúng pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị đơn là V1 chi nhánh B và tuyên chấp nhận yêu cầu phản tố của V1 chi nhánh B, buộc nguyên đơn phải thanh toán cả gốc và lãi cho V1 chi nhánh B1 không chính xác, mà phải là Ngân hàng thương mại cổ phần N (V1, chủ thể có tư cách pháp nhân) mới đúng; sai sót này của Tòa án cấp sơ thẩm không làm thiệt hại đến quyền và lợi ích của các đương sự nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm về vấn đề này mà chỉ cần sửa bản án sơ thẩm về vấn đề này và rút kinh nghiệm đối với Tòa án cấp sơ thẩm là đủ.
Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết mới, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, ông H và bà H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 3 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 37; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 155, Điều 157; Điều 158; Điều147; Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 108, Điều 122, Điều 474, Điều 401, Điều 402, Điều 405, Điều 715, Điều 716, Điều 717, Điều 718, Điều 719, Điều 720, Điều 721 BLDS 2005; khoản 2 điều 155, Điều 307, Điều 117, Điều 102, Điều 212, Điều 463, Điều 466, Điều 468, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng Điều 130 Luật đất đai 2003, xử:
- Đình chỉ yêu cầu tuyên bố các Hợp đồng tín dụng vô hiệu của nguyên đơn ông Phan Công H.
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của V1.
- Buộc vợ chồng ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải thanh toán cho V1 tổng số tiền là 15.697.903.356đ (Trong đó số nợ gốc là 5.567.000.000đ nợ lãi là 6.938.687.668đ, nợ lãi quá hạn là 3.192.215.688đ). Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án sơ thẩm trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ
quá hạn do các bên thỏa thuận tại 08 Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi vợ chồng ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý các tài sản bảo đảm là các quyền sử dụng đất đã thế chấp gồm:
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số AD 233307, do UBND thị xã H cấp ngày 31/8/2005 mang tên hộ ông Phan Văn H4 bà Phan Thị L1 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ01/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Văn H4, bà Phan Thị L1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số BB431737, do UBND thị xã H cấp ngày 04/10/2010 mang tên ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số BB 431738, do UBND thị xã H cấp ngày 04/10/2010 mang tên ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số BB431739, do UBND thị xã H cấp ngày 04/10/2010 mang tên ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số BB431740, do UBND thị xã H cấp ngày 04/10/2010 mang tên ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2010/VCB.Hti ngày 10/11/2010 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số AD233012, do UBND thị xã H cấp ngày 28/7/2005 mang tên hộ ông Phan Công H theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ01/2011/VCB.Hti ngày 10/11/2011 ký giữa ông Phan Công H, bà Nguyễn Thị Thúy H1 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
- Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở và các tài sản gắn liền với đất có tại Giấy CNQSD đất số AM095021, do UBND thị xã H cấp ngày 21/4/2008 mang tên bà Phan Thị H5 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số Đ02/2011/VCB.Hti ngày 07/01/2010 ký giữa bà Phan Thị H5 và Ngân hàng V1 chi nhánh B.
Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ thì ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải tiếp tục trả nợ phần chưa được thanh toán cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp số tiền phát mại tài
sản thu được nhiều hơn số tiền phải thanh toán thì phải trả lại cho ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1.
2. Về án phí: Ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000911 ngày 17/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Xác nhận ông Phan Công H và bà Nguyễn Thị Thúy H1 đã thi hành xong khoản tiền nộp án phí dân sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKS ND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - Các đương sự (theo địa chỉ) - Lưu HSVA, Phòng HCTP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Phan Nam |
Bản án số 620/2024/DS-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 620/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
