Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 620/2024/HC-PT

Ngày: 21/6/2024

V/v Khiếu kiện QĐHC về QLNN trong

lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp thu hồi

đất và giải quyết khiếu nại khi thu hồi đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: 1/ Ông Trần Ngọc Tuấn

2/ Ông Dương Anh Văn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Lê Công Thành, Kiểm sát viên cao

cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hành chính phúc thẩm, thụ lý số 345/2024/TLPT-HC ngày 03 tháng 4 năm 2024, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp thu hồi đất và giải quyết khiếu nại khi thu hồi đất”, giữa các bên đương sự:

Người khởi kiện: Bà Phạm Thị G, sinh năm 1950; Địa chỉ: Số A, đường số D, tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Người đại diện theo ủy quyền của G: Ông Trần Hoàng N, sinh năm 1998; Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh (Có mặt).

Người bị kiện:

  1. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh;
  2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh;

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Ngọc T1, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Hoàng A, Giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất huyện T, tỉnh Tây Ninh; Ông Nguyễn Huy G1, Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Người kháng cáo: Bà Phạm Thị G là người khởi kiện.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai của phía người khởi kiện trình bày:

Ngày 19 tháng 12 năm 2022, bà G có gởi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) huyện T về việc thu hồi đất của bà để thực hiện Dự án bờ kè chống sạt lở Suối cần Đ, sau đó UBND huyện T trả lời khiếu nại của bà bằng công văn 2236/UBND-TTPTQD ngày 30/12/2022. Bà G cho rằng UBND huyện T trả lời khiếu nại của bà sai về mặt hình thức theo luật khiếu nại, thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

Diện tích 74,25m² không nằm trong quyết định thu hồi diện tích 370,8m² bà muốn xây nhà nhưng phía cơ quan không cho phép, bà không biết giá bồi thường theo văn bản và căn cứ quy định nào.

Bà G yêu cầu: Huỷ công văn 2236/UBND-TTPTQĐ ngày 30/12/2022 của UBND huyện T; Huỷ bỏ Quyết định 1926/QĐ-TTPTQĐ ngày 30/6/2021 của UBND huyện T; Công bố toàn bộ văn bản về Dự án bờ kè chống sạt lở Suối cần Đ; Buộc UBND huyện T trả lại toàn bộ diện tích 370,8m² thuộc thửa đất số 13, tờ bản đồ số 1 toạ lạc tại thị trấn T, ước giá trị 2.100.000.000đồng.

Theo văn bản và lời khai của phía người bị kiện, UBND huyện T và Chủ tịch UBND huyện T trình bày:

Quyết định 1926/QĐ-TTPTQĐ ngày 30/6/2021 của UBND huyện T. Về hình thức của quyết định được ban hành bằng văn bản dưới hình thức Quyết định. Về thẩm quyền ban hành quyết định: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 66 Luật Đất đai năm 2013: UBND cấp huyện thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân.

UBND huyện T thu hồi diện tích 370,8m² để thực hiện Dự án bờ kè chống sạt lở Suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T là đúng thẩm quyền, đúng pháp luật.

Về trình tự, thủ tục ban hành quyết định: Căn cứ Điều 67 Luật Đất đai 2013; Điều 9, Điều 10, Điều 11 Thông Tư 30/2014/TT-BTNMT. Trình tự, thủ tục ban hành Quyết định 1926/QĐ-TTPTQĐ ngày 30/6/2021 U là đảm bảo tính hợp pháp, đúng quy pháp luật.

Các căn cứ để UBND huyện T ban hành Quyết định 1926/QĐ- TTPTQĐ ngày 30/6/2021 về việc thu hồi diện tích đất diện tích 370,8m² của bà G để thực hiện Dự án bờ kè chống sạt lở Suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T, huyện T và các quyết định có liên quan, cụ thể sau:

Căn cứ Khoản 3 Điều 61 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 18/2019/NQ-HĐND ngày 06/12/2019 và Nghị quyết số 06/2020/NQ-HDND ngày 31/7/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh T về thu hồi đất để thục hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2020; Quyết định số 792/QD-UBND ngày 17/4/2020, của UBND tỉnh T về việc phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2020 của huyện T. Quyết định số 1528/QĐ-UBND ngày 17/7/2020 và Quyết định số 1641/QĐ-UBND ngày 31/7/2020, của UBND tỉnh T về việc phê duyệt dự án đầu tu xây dựng công trình Bờ kè chống sạt lở Suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T, huyện T. Quyết định số 2867/QĐ-UBND ngày 23/11/2020 của UBND tỉnh T về việc phê duyệt bổ sung kế hoạch sử dụng đất năm 2020 của huyện T.

Căn cứ Quyết định số 1922/QĐ-UBND ngày 30/12/2021 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư thực hiện Dự án bờ kè chống sạt lở Suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (lần 3). Ngoài ra, bà G đã ký thủ tục nhận tiền bồi thường đầy đủ theo phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư thực hiện Dự án bờ kè chống sạt lở Suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T, huyện T được UBND huyện phê duyệt.

Về công văn 2236/UBND-TTPTQĐ ngày 30/12/2022 của UBND huyện T trả lời đơn của bà Phạm Thị G. UBND huyện T ban hành công văn 2236/UBND-TTPTQĐ ngày 30/12/2022 của Chủ tịch UBND huyện T là đúng quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu trả lại diện tích đất 370,8m² cho bà G: UBND huyện T xác định việc ban hành Quyết định số 1926/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 về việc thu hồi 370,8m² đất của bà G để thực hiện Dự án bờ kè chống sạt lở Suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T, huyện T là đúng quy định của pháp luật; bà G đã ký thủ tục nhận tiền bồi thường đầy đủ theo phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư, bà G đã ký văn bản bàn giao giải phóng mặt bằng cho cơ quan làm công tác bồi thường theo đúng quy định.

Những văn bản phải gởi cho bà G theo quy định đã được gởi cho bà G đúng quy định. Từ những căn cứ trên UBND huyện T đề nghị Hội Đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 21/2023/HC-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, đã tuyên xử:

Bác toàn bộ đơn khởi kiện của bà Phạm Thị G, về đòi hủy Quyết định số 1926/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 của UBND huyện T, đòi hủy Công văn số 2236/UBND-TTPTQĐ ngày 30/12/2022 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh và Yêu cầu trả lại 370,8m² đất ước tính giá trị 2.100.000.000đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/8/2023, bà Phạm Thị G làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, đề nghị phúc xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Phía người khởi kiện cho rằng, diện tích đất bị ảnh hưởng bởi dự án như đã nêu trên là đất không thuộc bờ suối C, nên việc thu hồi đất là không đúng. Về giá để tính toán bồi thường thì không công bằng, vì ở cùng khu vực này nhưng nhiều người được bồi thường với số tiền giá cao hơn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía bà G, hủy các quyết định hành chính nêu trên để tính toán việc bồi thường lại theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng, quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định. Về nội dung kháng cáo của đương sự thì thấy, quá trình thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, Ủy ban nhân dân huyện T đã thực hiện đúng các quy định về bồi thường, hỗ trợ về xác định giá. Việc xác định giá có cao hơn đối với những người được nhận tiền bồi thường hay thấp hơn, phía người khởi kiện đưa ra nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh, nên không có cơ sở chấp nhận. Về vị trí đất thu hồi đúng với bản vẽ đo đạt được phê duyệt, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị G làm trong hạn luật định nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:

[2.1] Thực hiện chủ trương của Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc triển khai dự án đầu tư xây dựng bờ kè chống sạt lở thuộc suối C trải qua thị trấn T được phê duyệt tại Quyết định số 1641/QĐ-UBND ngày 31/7/2020 là dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư thuộc trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội, vì lợi ích quốc gia, vì lợi ích công cộng quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.

Ngày 07/8/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh T đã ban hành Văn bản số 1896/QĐ-UBND ủy quyền cho Ủy ban nhân dân huyện T ban hành quyết định thu hồi đất thực hiện dự án bờ kè chống sạt lở ở suối C, trong đó 65 hộ, 3 tổ chức, trong đó hộ Bà G có diện tích là 370,8m², diện tích đất ở 33,8m², loại trồng cây lâu năm là 337m² thửa đất mang số 43, một phần thửa cũ là 174 tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Ủy ban nhân dân huyện T đã ban hành Quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất đối với bà G.

Quyết định số 2266/QĐ-UBND ngày 13/7/2021 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Quyết định số 142/QĐ-UBND ngày 18/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho bà với số tiền là 807.758.500đồng. Ngày 17/9/2021, bà G đã nhận đủ số tiền và cùng ngày bà đã tự nguyện bàn giao diện tích đất nêu trên cho dự án.

[2.2] Tại biên bản bàn giao mặt bằng ngày 17/9/2021, Biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 04/11/2020 phù hợp với trích lục bản đồ địa chính ngày 04/12/2020 thể hiện diện tích đất của bà ở ngay vị trí có diện tích là 370,8m².

Theo bản vẽ của cơ quan bồi thường. Ủy ban nhân dân huyện đã xác định loại đất của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng, do đó xác định diện tích đất ở thuộc loại đô thị xã loại 1 với giá là 2.390.000đồng/m², đất cây lâu năm vị trí số 1, xã L và áp giá bồi thường là 1.831.000đồng/m² là có căn cứ, đúng với giá đất cụ thể đã được Ủy ban tỉnh phê duyệt để bồi thường theo Quyết định số 2066/QĐ-UBND ngày 13/7/2021. Ngày 17/9/2021, bà G cũng đã nhận đủ tiền bồi thường với số tiền 807.758.500đồng.

Tòa sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G là có căn cứ, hợp pháp.

[2.3] Tại cấp phúc thẩm, phía bà G kháng cáo nhưng cũng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, nên không có cơ sở chấp nhận.

[3] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bà G chịu án phí hành chính phúc thẩm. Bà G là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo luật định.

[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Bởi các lẽ trên,

Căn cứ Điều 241 Luật tố tụng Hành chính.

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị G. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 30, Điều 32, Điều 115, Điều 116; Điều 193 của Luật Tố tụng Hành chính 2015; Luật đất đai 2013; Luật Khiếu nại; Nghị quyết 326/2016/UBNVQH của Ủy ban thường vụ Q.

Tuyên xử:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị G, về việc đòi hủy Quyết định số 1926/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 của UBND huyện T và yêu cầu đòi hủy Công văn số 2236/UBND-TTPTQĐ ngày 30/12/2022 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh và Yêu cầu trả lại 370,8m² đất ước tính giá trị 2.100.000.000đồng.
  2. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
  3. Án phí hành chính phúc thẩm: Bà G được miễn nộp án phí hành chính phúc thẩm.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
  • - Các đương sự (Để thi hành).
  • - Lưu văn phòng; hồ sơ vụ án, NTV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 620/2024/HC-PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp thu hồi đất và giải quyết khiếu nại khi thu hồi đất

  • Số bản án: 620/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp thu hồi đất và giải quyết khiếu nại khi thu hồi đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger