TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 62/2024/DS-ST Ngày 31-5-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Cẩm Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thắm;
Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 483/2023/TLST - DS ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ; địa chỉ trụ sở: Số A, đường P, phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu H, sinh năm 1977 – Giám đốc Phòng G thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Thành phố H, là người đại diện theo ủy quyền (theo Quyết định số 58/QĐ-DAB-PC ngày 27/01/2021); vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trương Hoàng H1, sinh năm 1983; thường trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú tại: Khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thu H trình bày:
Ông Trương Hoàng H1 có vay tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Thành phố H – Phòng G cụ thể như sau: Vào ngày 05/09/2019, ông Trương Hoàng H1 lập Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn gửi Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Thành phố H – Phòng G đề nghị được vay vốn dưới hình thức vay tín chấp qua lương với số tiền đề nghị vay là 50.000.000 đồng, mục đích vay là vay tiêu dùng. Ngày 04/12/2019, giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Thành phố H – Phòng G với ông Trương Hoàng H1 ký kết Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00935827-0135515501T19063, theo đó Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Thành phố H – Phòng G cho ông H1 vay số tiền là 50.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 05/12/2019 đến 04/12/2020, lãi suất vay 9%/ năm, ông H1 có nghĩa vụ trả gốc lãi góp định kỳ hàng tháng. Ngoài ra trong hợp đồng còn thỏa thuận về điều khoản về trường hợp bất khả kháng, quyền và nghĩa vụ của hai bên, thanh lý trước hạn ... Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Thành phố H – Phòng G đã giải ngân cho ông Trương Hoàng H1 số tiền 50.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của ông Trương Hoàng H1 số 0108151536 mở tại Ngân Hàng Thương mại Cổ phần Đ theo Giấy báo có ngày 04/12/2019. Khi vay, ông H1 không thế chấp tài sản và khoản vay này là cá nhân ông H2 vay, không liên quan đến ai khác.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H1 thanh toán tiền gốc, lãi định kỳ hàng tháng đầy đủ đến tháng 6/2020 với số tiền là: 30.280.000 đồng, trong đó tiền gốc là 27.001.539 đồng, tiền lãi là 3.288.461 đồng. Từ tháng 07/2020, ông H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, lãi hàng tháng mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông Trương Hoàng H1 vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
Tính đến hết ngày 31/5/2024 thì số tiền ông Trương Hoàng H1 còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ là: 35.730.209 đồng, trong đó, số tiền nợ gốc là 22.998.461 đồng, lãi trong hạn 1.211.539 đồng và lãi quá hạn 11.520.209 đồng.
Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu: Buộc ông Trương Hoàng H1 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tính đến hết ngày 31/5/2024 là: 35.730.209 đồng, trong đó, tiền nợ gốc là 22.998.461 đồng, lãi trong hạn 1.211.539 đồng và lãi quá hạn 11.520.209 đồng.
3
Kể từ ngày 01/6/2024, ông Trương Hoàng H1 còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc thực nợ, theo mức lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00935827-0135515501T19063 ngày 04/12/2019 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Thành phố H – Phòng G với ông Trương Hoàng H1.
Trong quá trình tố tụng, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trương Hoàng H1, nhưng ông Trương Hoàng H1 không đến Tòa án làm việc theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông H1.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án; việc cấp tống đạt văn bản pháp luật và việc tuân thủ quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thu H có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trương Hoàng H1 đã được Tòa án đã tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng, nhưng ông H1 không đến Tòa án làm việc và tham gia phiên tòa xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà H, ông H1.
[2] Xét tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00935827-0135515501T19063 ngày 04/12/2019 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Thành phố H – Phòng G với ông Trương Hoàng H1:
Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00935827-0135515501T19063 ngày 04/12/2019 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Thành phố H – Phòng G với ông Trương Hoàng H1. Tại thời điểm ký kết, bà Nguyễn Thu H là người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Thành phố H – Phòng G, việc các bên ký kết hợp đồng tín dụng trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm
4
của pháp luật. Do đó, thỏa thuận hợp đồng giữa hai bên có hiệu lực pháp luật và là cơ sở phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa hai bên.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ cung cấp, thể hiện: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Thành phố H – Phòng G với ông Trương Hoàng H1 ký kết Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00935827-0135515501T19063 ngày 04/12/2019. Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Thành phố H – Phòng G đã giải ngân cho ông Trương Hoàng H1 số tiền 50.000.000 đồng bằng hình thức chuyển vào tài khoản của ông Trương Hoàng H1 số 0108151536 mở tại Ngân Hàng Thương mại Cổ phần Đ theo Giấy báo có ngày 04/12/2019.
Sau khi vay tiền, ông H1 thanh toán tiền gốc, lãi định kỳ hàng tháng đầy đủ đến tháng 6/2020 với số tiền là: 30.280.000 đồng, trong đó tiền gốc là 27.001.539 đồng, tiền lãi là 3.288.461 đồng, được thể hiện tại Sao kê tài khoản ngày 30/5/2024. Từ tháng 07/2020, ông H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, lãi cho Ngân hàng. Do đó, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, cần buộc ông Trương Hoàng H1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền gốc là 22.998.461 đồng và tiền lãi tính đến hết ngày 31/5/2024 là 12.731.748 đồng, tổng cộng tiền gốc, lãi là: 35.730.209 đồng.
Đồng thời, kể từ ngày 01/6/2024, ông Trương Hoàng H1 phải tiếp tục chịu tiền lãi, lãi quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc thực nợ, được thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00935827-0135515501T19063 ký kết ngày 04/12/2019, cho đến khi ông Trương Hoàng H1 thanh toán hết nợ.
[4] Về chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ông Trương Hoàng H1 phải chịu số tiền 5.497.450 đồng, số tiền này hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
[5] Về án phí sơ thẩm: Ông Trương Hoàng H1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Luật các Tổ chức tín dụng;
5
- - Khoản 1 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Các Điều 144, 147, 156, 157, 180, 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
1. Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đối với bị đơn ông Trương Hoàng H1 về: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”;
- Buộc ông Trương Hoàng H1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền gốc là 22.998.461 đồng và số tiền lãi tính đến hết ngày 31/5/2024 là 12.731.748 đồng, tổng cộng tiền gốc, lãi là: 35.730.209 (ba mươi lăm triệu, bảy trăm ba mươi nghìn, hai trăm lẻ chín) đồng.
- Kể từ ngày 01/06/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Trương Hoàng H1 phải tiếp tục chịu tiền lãi, lãi quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc thực nợ, được thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00935827-0135515501T19063 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh Thành phố H – Phòng G với ông Trương Hoàng H1 vào ngày 04/12/2019.
2. Về chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ông Trương Hoàng H1 phải chịu số tiền 5.497.450 (năm triệu, bốn trăm chín mươi bảy nghìn, bốn trăm năm mươi) đồng, số tiền này hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
3. Về án phí:
Ông ông Trương Hoàng H1 phải chịu 1.786.510 (năm mươi ba triệu, năm trăm tám mươi chín nghìn, không trăm hai mươi ba) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 745.562 (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn, năm trăm sáu mươi hai) đồng tại Biên lai thu số AA/2021/00001651 ngày 12/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương.
4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ; ông Trương Hoàng H1 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật
6
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cẩm Hằng |
Bản án số 62/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 62/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng
