Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/DS-ST

Ngày 30 – 9 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

và hợp đồng thế chấp tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Bình

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Nhi

Ông Đỗ Văn Kha

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên Tòa: Ông Bùi Hoàng Long

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài: Bà Đặng Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài mở phiên Tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 147/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QÐST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐ-HPT ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N1.

Trụ sở: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – CV: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Bùi Thị Gia N – CV: Nhân viên pháp chế ngân hàng. (Có mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Nhật Ý - SN: 2004 và bà Huỳnh Thị Ngọc T – SN: 1978; cùng trú tại: Khu phố D, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng N1 và tại phiên tòa bà Bùi Thị Gia N là người được ủy quyền trình bày:

Bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T cùng Ngân hàng N1 - Chi nhánh tỉnh B (viết tắt là A Chi nhánh tỉnh B) sau quá trình thỏa thuận đã đồng ý ký kết Hợp đồng tín dụng số 5600LAV202301322 ký ngày 16/5/2023 như sau:

  • Mục đích vay: Bù đắp tài chính trồng trọt chăn nuôi hỗn hợp
  • Số tiền vay: 1.500.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ năm trăm triệu đồng)
  • Thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng đến hết ngày 16/5/2024
  • Lãi suất tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng: 11,6%/năm.
  • Phương thức áp dụng lãi suất: Lãi suất thả nổi. Lãi suất thả nổi được điều chỉnh định kỳ 6 tháng/lần kể từ ngày giải ngân, được tính bằng lãi suất niêm yết tối đa tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 12 tháng trả lãi cuối kỳ theo quy định của Giám đốc A chi nhánh tỉnh B + (cộng) 4,4%/năm.
  • Hạn trả nợ gốc: 16/5/2024
  • Định kỳ trả lãi: Theo quý (03 tháng/lần) vào ngày 16.

Để đảm bảo nợ vay, A Chi nhánh tỉnh B đã ký kết với Bà Nguyễn Thị Nhật Ý hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số V2023-066304005167/HĐTC ngày 15/5/2023 để thế chấp 01 tài sản sau:

Quyền sử dụng đất có diện tích 249,6 m², tọa lạc tại Khu phố C, phường T, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước, thuộc thửa đất số 454, tờ bản đồ số 17, đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 065654, số vào sổ cấp GCN: CS 03765 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 15/9/2022 cho Bà Nguyễn Thị Nhật Ý.

Việc thế chấp quyền sử dụng đất của Bà Nguyễn Thị Nhật Ý đã được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ, tỉnh Bình Phước ngày 15/5/20232 theo quy định.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, A Chi nhánh tỉnh B đã giải ngân số tiền 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng) vào số tài khoản 5600205472870 chủ tài khoản Nguyễn Thị Nhật Ý vào ngày 16/5/2023.

Ngày 13/11/2023 bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T đã trả được tiền lãi trong hạn từ ngày 16/5/2023 đến ngày 15/8/2023 là 43.857.534 đồng, cụ thể cách tính số tiền đã trả như sau: Số tiền lãi trong hạn đã trả =1.500.000.000 đồng x 11.6% x 92ngày/365 ngày= 43.857.534 đồng.

Tuy nhiên bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T không thực hiện nghĩa vụ trả đầy đủ nợ lãi cho A, vi phạm hợp đồng kể từ ngày 16/8/2023 (vi phạm nợ lãi), vì không trả đầy đủ nợ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 7 Hợp đồng tín dụng số 5600LAV202301322 ký ngày 16/5/2023 “Hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay, phí đầy đủ đúng thời hạn thỏa thuận tại Hợp đồng này; Chấp hành thông báo tạm ngừng cho vay, chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn của Ngân hàng”.

Căn cứ khoản 1 Điều 6 Hợp đồng tín dụng số 5600LAV202301322 ký ngày 16/5/2023, khách hàng vi phạm về thời hạn trả nợ lãi quy định theo thỏa thuận nên A Chi nhánh tỉnh B thực hiện chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn. A Chi nhánh tỉnh B đã thực hiện thông báo cho khách hàng về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn theo quy định.

Tổng cộng nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T còn nợ Ngân hàng N1 là 1.706.417.004 đồng (Một tỷ bảy trăm lẻ sáu triệu bốn trăm mười bảy nghìn không trăm lẻ bốn đồng), trong đó: nợ gốc là 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng), tiền lãi trong hạn là 116.408.219 đồng (Một trăm mười sáu triệu, bốn trăm lẻ tám nghìn hai trăm mười chín đồng), tiền lãi quá hạn là 82.516.438 đồng (T1 mươi hai triệu năm trăm mười sáu nghìn bốn trăm ba mươi tám đồng), tiền nợ lãi chậm trả: 7.492.346 đồng (Bảy triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn ba trăm bốn mươi sáu đồng).

A chi nhánh tỉnh B đã nhiều lần đôn đốc thu hồi nợ nhưng Bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T vẫn chây ỳ không chịu trả nợ cho Ngân hàng.

Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của A chi nhánh tỉnh B không bị ảnh hưởng xấu bởi hành vi vi phạm của Bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T, nay Ngân hàng N1 yêu cầu TAND thành phố Đồng Xoài giải quyết:

  • Buộc Bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T phải chịu trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng N1 số tiền gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 (do tiền lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại A Chi nhánh tỉnh B là: 1.706.417.004 đồng (Một tỷ bảy trăm lẻ sáu triệu bốn trăm mười bảy nghìn không trăm lẻ bốn đồng), trong đó: nợ gốc là 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng), tiền lãi trong hạn là 116.408.219 đồng (Một trăm mười sáu triệu, bốn trăm lẻ tám nghìn hai trăm mười chín đồng), tiền lãi quá hạn là 82.516.438 đồng (T1 mươi hai triệu năm trăm mười sáu nghìn bốn trăm ba mươi tám đồng), tiền nợ lãi chậm trả: 7.492.346 đồng (Bảy triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn ba trăm bốn mươi sáu đồng). Đồng thời, tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 cho đến ngày thực tế bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N1 theo Hợp đồng tín dụng số 5600LAV202301322 ký ngày 16/5/2023.
  • Trường hợp bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên, Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số V2023-066304005167/HĐTC ngày 15/5/2023 để Ngân hàng N1 thu hồi nợ theo quy định của pháp luật sau đây:

    Quyền sử dụng đất có diện tích 249,6 m², tọa lạc tại Khu phố C, phường T, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước, thuộc thửa đất số 454, tờ bản đồ số 17, đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 065654, số vào sổ cấp GCN: CS 03765 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 15/9/2022 cho bà Nguyễn Thị Nhật Ý.

    Trường hợp sau khi phát mãi tài sản, số tiền phát mãi tài sản thu được không đủ để trả nợ cho Ngân hàng N1 thì bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T phải tiếp tục liên đới trả cho Ngân hàng N1 số tiền nợ còn lại theo Hợp đồng tín dụng số 5600LAV202301322 ký ngày 16/5/2023.

  • Về chi phí xác minh, thẩm dịnh tại chỗ: Kính đề nghị Tòa án xem xét bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T liên đới hoàn trả cho Ngân hàng N1 số tiền xác minh, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Tại phiên tòa Ngân hàng giao nộp cho Tòa án bảng tính nợ gốc và lãi chi tiết khoản nợ của bà Ý và bà T còn nợ Ngân hàng tạm tính đến ngày 30/9/2024.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có bản tự khai.

Phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài:

  • Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán tiến hành các thủ tụng tố tụng đúng theo quy định của pháp luật, việc xác định tư cách đương sự và quan hệ pháp luật đang tranh chấp là đúng, phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :

Sau khi nghiên cứu đầy đủ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Toà án : Đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”. Trong đó, bị đơn là bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T hiện đang cư trú tại khu phố D, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.

[1.2] Về thủ tục giải quyết vắng mặt: Trong quá trình thụ lý cũng như giai đoạn thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù Toà án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T nhiều lần nhưng bà Ý và bà T vẫn vắng mặt. Việc vắng mặt của bà Ý và bà T là đương nhiên từ chối quyền lợi của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Ý và bà T theo thủ tục chung.

[2] Xét nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng N1 (viết tắt là Ngân hàng);

[2.1] Xét khoản vay theo hợp đồng tín dụng số: 5600LAV202301322 ký ngày 16/5/2023.

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 5600LAV202301322 ký ngày 16/5/2023 có chữ ký của bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T; Căn cứ vào nội dung ký kết trong hợp đồng. Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định bà Ý và bà T đã vay của Ngân hàng số tiền 1.500.000.000đ (Một tỷ năm trăm triệu đồng), thời hạn vay là 12 tháng; Hạn trả nợ gốc ngày 16/5/2024; Mục đích vay là để Bù đắp tài chính trồng trọt chăn nuôi hỗn hợp; Lãi suất vay tại thời điểm nhận nợ là: 11,6 %/năm; Định kỳ trả lãi theo quý (03 tháng/lần) vào ngày 16, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả đối với khoản lãi vay không trả đúng hạn được tính bằng số dư nợ lãi bị quá hạn nhân (x) số ngày quá hạn nhân (x) 10%/năm chia (:) 365 ngày. Ngân hàng và bà Ý, bà T ký kết Hợp đồng tín dụng trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận và bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự.

Xét thấy, Trong quá trình thực hiện hợp đồng, mặc dù thời hạn hợp đồng vay chưa hết hạn (12 tháng), nhưng việc bà Ý và bà T không thanh toán số tiền lãi cho Ngân hàng theo định kỳ trong hợp đồng đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, vi phạm thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Ý và bà T trả toàn bộ số nợ gốc và tiền lãi là phù hợp với quy định theo quy định tại Điều 5, Điều 6 của hợp đồng tín dụng số 5600LAV202301322 ký ngày 16/5/2023 về việc chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn. Tổng số tiền Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T phải thanh toán tính đến ngày 30/9/2024 (ngày xét xử sơ thẩm vụ án) là 1.706.417.004 đồng (Một tỷ bảy trăm lẻ sáu triệu bốn trăm mười bảy nghìn không trăm lẻ bốn đồng), trong đó: nợ gốc là 1.500.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 116.408.219 đồng, tiền lãi quá hạn là 82.516.438 đồng, tiền nợ lãi chậm trả: 7.492.346 đồng là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các hợp đồng đã ký kết kể từ ngày 01/10/2024 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm vụ án) cho đến khi bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T trả hết nợ:

Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 5600LAV202301322 ký ngày 16/5/2023, xét thấy, sự thỏa thuận về tiền lãi của các bên là tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật nên yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ.

Xét thấy, khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 5600LAV202301322 ký ngày 16/5/2023 có bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số V2023-066304005167/HĐTC ngày 15/5/2023 được công chứng tại Văn phòng C. Hợp đồng thế chấp được các bên xác lập tuân thủ đúng quy định về nội dung, hình thức, chủ thể giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự nên Hợp đồng công chứng là hợp pháp.

Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 454, tờ bản đồ số 17 có diện tích 249,6m² tại khu phố P, phường T, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 065654, số vào sổ cấp GCN: CS 03765 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 15/9/2022 cho Bà Nguyễn Thị Nhật Ý. Sau khi hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được công chứng, tài sản thế chấp đã được thế chấp tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, nếu bà Ý và bà T không trả được nợ thì Ngân hàng được yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp.

[3]. Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng đã nộp 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả lại số tiền này cho ngân hàng, xét thấy, yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng không phải chịu án phí và được hoàn trả tiền tạm ứng án phí. Bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.

[5] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên được chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 2 Điều 227, khoản Điều 228, Điều 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 117, 119, 280, 292, 298, 299, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 398, 401, 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 100, 103 và Điều 107 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024;

Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”.

    Buộc bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N1 tổng số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng số 5600LAV202301322 ký ngày 16/5/2023 tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2024 là 1.706.417.004 đồng (Một tỷ bảy trăm lẻ sáu triệu, bốn trăm mười bảy nghìn, không trăm lẻ bốn đồng), trong đó: nợ gốc là 1.500.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 116.408.219 đồng, tiền lãi quá hạn là 82.516.438 đồng, tiền nợ lãi chậm trả là 7.492.346 đồng.

    Kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2024 bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T còn phải tiếp tục trả các khoản tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 5600LAV202301322 ký ngày 16/5/2023 cho đến khi bà Ý và bà T hoàn thành nghĩa vụ thanh toán. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Trong trường hợp bà Ý và bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 454, tờ bản đồ số 17 có diện tích 249,6m², địa chỉ thửa đất tại khu phố P, phường T, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 065654, số vào sổ cấp GCN: CS 03765 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 15/9/2022 cho Bà Nguyễn Thị Nhật Ý. Số tiền phát mãi tài sản sau khi đã trừ các chi phí liên quan đến việc phát mãi sẽ được thanh toán và chi trả theo quy định của pháp luật. Nếu sau khi trả hết nợ cho Ngân hàng mà số tiền phát mãi đối với tài sản thế chấp còn dư thì sẽ được trả lại cho chủ sở hữu của tài sản thế chấp. Nếu số tiền phát mãi tài sản không đủ để trả nợ thì bà Ý và bà T phải tiếp tục trả cho Ngân hàng số tiền nợ còn lại.

    Trong trường hợp bà Ý và bà T thanh toán xong số nợ cho Ngân hàng mà không phải phát mãi tài sản đã thế chấp để trả nợ thì Ngân hàng có nghĩa vụ thực hiện xóa thế chấp và trả lại cho bà Ý bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số DG 065654, số vào sổ cấp GCN: CS 03765 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 15/9/2022 cho Bà Nguyễn Thị Nhật Ý.

  3. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T phải hoàn trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) tiền xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Nhật Ý và bà Huỳnh Thị Ngọc T liên đới phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 63.192.500đ (Sáu mươi ba triệu, một trăm chín mươi hai nghìn, năm trăm đồng).

    Hoàn trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 29.000.000₫ (Hai mươi chín triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001274 ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài.

  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thành phố Đồng Xoài;
  • - THADS thành phố Đồng Xoài;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Hữu B

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản

  • Số bản án: 62/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger