|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2024
V/v “Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng Ánh;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Phùng Xuân Thu;
- Ông Hoàng Minh Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 265/2024/TLST-HNGĐ ngày 24-6-2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 384/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29-8-2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thu N, sinh năm 1988; nơi thường trú: Thôn M, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Bị đơn: Anh Đặng Hồng Q, sinh năm 1982; nơi thường trú: Thôn G, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Các đương sự đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Tại Đơn khởi kiện ngày 13-5-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phan Thị Thu N trình bày:
Chị và anh Đặng Hồng Q tìm hiểu, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban dân dân (UBND) xã T, huyện S (nay là thành phố Q), tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 31-01-2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách của vợ chồng hoàn toàn ngược nhau nên trong cuộc sống vợ chồng rất ít khi tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường hay cải vã khiến cho cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, không còn quan tâm nhau. Nay tình cảm không còn, mâu thuẫn vợ chồng mức trầm trọng, không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn anh Đặng Hồng Q.
Chị và anh Q có 02 con chung là cháu Đặng Hạo N1, sinh ngày 08-6-2013 và cháu Đặng Minh Đ, sinh ngày 24-11-2015. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cả 02 con cho đến khi các con đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có
2. Bị đơn anh Đặng Hồng Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa; không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị Thu N.
3. Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự, tống đạt văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu; trình tự thủ tục phiên tòa; nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chị N được ly hôn anh Q; giao con chung là cháu Đặng Hạo N1, sinh ngày 08-6-2013 và cháu Đặng Minh Đ, sinh ngày 24-11-2015 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở; về tài sản chung, nợ chung: Không có. Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Chị Phan Thị Thu N vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Đặng Hồng Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
2
[2] Về nội dung:
[2.1] Chị Phan Thị Thu N và anh Đặng Hồng Q tự nguyện đăng ký kết hôn tại tại UBND xã T, huyện S (nay là thành phố Q), tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 31-01-2012 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng anh Q không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện và các tình tiết, sự kiện mà chị N đưa ra, không đến Tòa án để trình bày ý kiến, hòa giải, không đến phiên tòa để trình bày. Căn cứ Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Theo Đơn khởi kiện và trình bày của chị N thì nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng là do tính cách của vợ chồng hoàn toàn ngược nhau nên trong cuộc sống vợ chồng rất ít khi tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường hay cải vã khiến cho cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, không còn quan tâm nhau. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ trình bày của chị N về tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.
[2.3] Chị N và anh Q có 02 con chung là cháu Đặng Hạo N1, sinh ngày 08-6-2013 và cháu Đặng Minh Đ, sinh ngày 24-11-2015; cả 02 cháu đều có nguyện vọng muốn ở với mẹ nên Hội đồng xét xử quyết định giao 02 cháu cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị N không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[2.4] Chị N không yêu cầu giải quyết tài sản chung và trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Chị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[3] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 91, 144, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều
3
27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- Chị Phan Thị Thu N được ly hôn anh Đặng Hồng Q.
- Giao cháu Đặng Hạo N1, sinh ngày 08-6-2013 và cháu Đặng Minh Đ, sinh ngày 24-11-2015 cho chị Phan Thị Thu N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
- Chị Phan Thị Thu N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002931 ngày 20-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Anh Đặng Hồng Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hồng Ánh |
4
Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn gia đình nên bà N yêu cầu ly hôn ông Q
