Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 8 -2024

V/v: “Xin ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Sơn

Bà Mai Lương Anh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh. Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 377/2024/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phan Hải Đ, sinh năm:1986.

    Địa chỉ: số B, đường P, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T, sinh năm: 1987Nguyễn Thành Hộ.

    Địa chỉ: số D, đường N, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Phan Hải Đ trình bày: Chị và anh Nguyễn Anh T kết hôn với nhau vào năm 2020, trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do thời gian chị mang thai anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Chị cũng đã khuyên bảo và cho anh T cơ hội sửa chữa nhưng anh T vẫn không thay đổi. Vì vậy, chị và anh T đã sống ly thân từ giữa năm 2022 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh T không nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Nguyễn Đăng K, sinh ngày 07/5/2021. Hiện nay chị đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Anh T trình bày: Anh và chị Phan Hải Đ kết hôn với nhau vào năm 2020, trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung nên cuộc sống chung không hạnh phúc. Vì vậy, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay chị Đ làm đơn xin ly hôn anh xác định tình cảm vợ chồng cũng không còn nên anh cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Đ.

Về con chung: Anh và chị Đ có 01 con chung là Nguyễn Đăng K, sinh ngày 07/5/2021. Hiện nay đang được chị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng, anh sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh T có đơn xin giải quyết vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, chị Đ xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T nữa nên vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh T. Về con chung, chị Đ có nguyện vọng được nuôi con và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000đ/tháng. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, các đương sự và Hội đồng xét xử. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phan Hải Đ. Về con chung, giao con chung là Nguyễn Đăng K cho chị Đ có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/tháng. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Anh T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa hôm nay và anh T có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 cần xem xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Anh T theo thủ tục chung là phù hợp.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Hải Đ và anh Nguyễn Anh T kết hôn với nhau vào năm 2020, trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng không hợp nhau, không tin tưởng nhau trong quan hệ tình cảm nên cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc và cả hai đã tự sống ly thân nhau. Tại phiên toà, chị Đ xác định không còn tình cảm với anh T và giữ nguyên yêu cầu được ly hôn còn anh T có đơn xin giải quyết vắng mặt. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án anh T cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Đ. Vì vậy, nếu cứ kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phan Hải Đ, xử cho chị Phan Hải Đ và anh Nguyễn Anh T được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
  3. Về con chung: Chị Đ và anh T có 01 con chung là Nguyễn Đăng K, sinh ngày 07/5/2021. Khi ly hôn chị Đ có nguyện vọng được nuôi con và anh T cũng đồng ý giao con chung cho chị Đ nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay cháu K còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của mẹ, cháu K đang được chị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm sinh lý của trẻ nhỏ cần tiếp tục giao con chung là Nguyễn Đăng K cho chị Đ có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp.

    Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị Đ yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000đ/tháng. Trong quá trình giải quyết vụ án anh T cũng đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của chị Đ. Vì vậy, cần buộc anh anh Nguyễn Anh T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000đ/tháng.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ và anh T cùng xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để xem xét.
  5. Về án phí: Chị Đ phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Anh T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phan Hải Đ. Xử cho chị Phan Hải Đ và anh Nguyễn Anh T được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Đăng K, sinh ngày 07/5/2021 cho chị Phan Hải Đ có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

    Anh Nguyễn Anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000đ/tháng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành theo quy định của pháp luật.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân năm 2015.

    Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

  3. Về án phí: Chị Đ phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000785 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, chị Đ đã nộp đủ án phí.

    Anh Nguyễn Anh T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về nghĩa vụ thi hành án:

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

  5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tp. Đà Lạt;
  • - Chi cục THADS tp. Đà Lạt;
  • - UBND phường B'Lao, tp. Bảo Lộc
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Nguyễn Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phan Hải Đường và anh Nguyễn Anh Toàn xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger