Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-7-2024.

(V/v: Ly hôn, nuôi con chung).

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT - TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Lưu Thị Thôi.
  • 2/ Ông Đặng Thanh Tấn.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Thuỳ Chi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Nhã Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 201/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/5/2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 460/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 507/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/7/2024 giữa:

Nguyên đơn: ông Nguyễn Ngọc S – sinh năm 1992

Nơi cư trú: Khu phố D, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Bà Võ Thị Phương N – sinh năm 1988

Nơi cư trú: Khu phố C, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại nội dung đơn kiện, bản khai nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Võ Thị Phương N tự tìm hiểu, quen biết nhau, chung sống vào năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 11/01/2016.

Trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu cùng nhau làm ăn lo lắng cho gia đình, con cái. Thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hòa hợp, mâu thuẫn về tài chính dẫn đến không có tiếng nói chung nên thường xảy ra cải vã, không tôn trọng nhau, ảnh hưởng đến đời sống vợ chồng và con cái. Ông đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống nhưng vì thương con còn nhỏ dại, nên ông đã về chung sống lại nhưng chỉ được thời gian ngắn thì lại phát sinh mâu thuẫn. Dù ông đã cố gắng hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Từ đầu năm 2021 cho đến nay, vợ chồng mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau. Nay ông S xác định tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà N.

- Về con chung: Bà khai có 01 con chung tên Nguyễn Võ Phương L (nữ), sinh ngày 21/4/2016. Sau khi ly hôn, ông đồng ý giao con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 15.000.000 đồng cho đến khi con tròn 18 tuổivà có khả năng lao động.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, ông S trình bày: ông vẫn giữ ý kiến đã trình bày, ông S xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng nhau và đã tự sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay ông S yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với bà N. Về con chung: ông đồng ý giao con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng con, ông cấp dưỡng tiền nuôi con 15.000.000 đồng/tháng cho đến khi con tròn 18 tuổi và có khả năng lao động. Về tài sản chung, nợ chung: vẫn giữ ý kiến đã trình bày, không thay đổi, bổ sung gì thêm.

Bị đơn bà Võ Thị Phương N trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà N không có ý kiến và vắng mặt tại các buổi công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến và hòa giải được.

Bà Võ Thị Phương N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

- Về tố tụng: từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

Tại phiên tòa hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tiến hành các trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

- Về nội dung: Viện kiểm sát thấy rằng tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã thể hiện hôn nhân của ông Nguyễn Ngọc S và bà Võ Thị Phương N là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 11/01/2016. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, do không cùng quan điểm sống dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn như trước, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên toà ông S khai ông bà đã nộp đơn ly hôn sau đó về chung sống lại cho nhau cơ hội nhưng vợ chồng vẫn không thể hàn gắn tình cảm. Từ năm 2019 cho đến nay thì vợ chồng sống ly thân nhau, mạnh ai nấy sống. Tòa án cũng tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà N cũng không có ý kiến gì và cũng không tới Tòa án để hòa giải như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng của ông bà không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó: căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 và Điều 57 Luật HNGĐ 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: ông S được ly hôn bà N.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Võ Phương L (nữ), sinh ngày 21/4/2016. Hiện nay hai con chung đang sống cùng bà N. Hơn nữa con chung cũng có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Để đảm bảo ổn định cuộc sống và điều kiện tốt nhất cho cháu L nên căn cứ Điều 58, 81, 82, 83 Luật HNGĐ 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các quy định của pháp luật. Về tiền cấp dưỡng: Ông S cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bà N 15.000.000 đồng/tháng kể từ ngày Bản án có hiệu lực cho đến khi con chung tròn 18 tuổi và có khả năng lao động nên ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Do ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên VKS không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát thành phố P, hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Ngọc S có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con chung. Bị đơn là bà Võ Thị Phương N hiện cư trú tại phường L, thành phố P. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ, nhưng bà Võ Thị Phương N vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của ông Nguyễn Ngọc S và bà Võ Thị Phương N là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 11/01/2016.

Quá trình giải quyết vụ án, ông thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không còn hợp nhau, không có tiếng nói chung, không còn tôn trọng nhau. Sau đó ông S bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ năm 2019 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân nhau, mạnh ai nấy sống. Sau đó ông có nộp đơn ly hôn nhưng vì con còn nhỏ nên ông rút đơn về nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện. Bà N cũng đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của ông S. Như vậy chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật HNGĐ 2014 Hội đồng xét xử xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc S được ly hôn với bà Võ Thị Phương N.

[2.2] Về con chung: Ông S, bà N có 01 con chung tên Nguyễn Võ Phương L (nữ), sinh ngày 21/4/2016. Sau khi ly hôn, ông đồng ý giao con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy: Hiện nay con chung đang do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, cháu L cũng có nguyện vọng được ở cùng bà N. Để đảm bảo ổn định cuộc sống và điều kiện học hành, vật chất và tinh thần tốt nhất cho cháu L nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông S: Giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng.

Bà N, ông S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Ông S có quyền thăm nom con chung.

Về mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông S tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bà N mỗi tháng 15.000.000 đồng cho đến khi con tròn 18 tuổi và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà N không có ý kiến phản hồi nên Hội đồng xét xử không xét trong vụ án này. Sau này nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[3] Xét đề nghị về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Ông S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí về tiền cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Căn cứ: Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

2/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1/Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ngọc S được ly hôn bà Võ Thị Phương N.

2/ Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Võ Phương L (nữ), sinh ngày 21/4/2016 cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Bà N, ông S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Ông S có quyền thăm nom cho chung.

Về mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông S cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bà N 15.000.000 đồng/tháng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con tròn 18 tuổi và có khả năng lao động.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 01 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

4/ Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc S phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí về tiền cấp dưỡng nuôi con. Ngày 15/5/2024, ông S đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết thu theo biên lai số 0001722, nay chuyển 300.000 đồng sang án phí và sung công quỹ nhà nước. Ông S phải nộp thêm 300.000 đồng tiền án phí.

Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, đối với ông Nguyễn Ngọc S kể từ ngày tuyên án (30/7/2024), đối với bà Võ Thị Phương N kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Phan Thiết;
  • - Toà án tỉnh Bình Thuận;
  • - UBND phường Đức Long, tp. Phan Thiết, BT;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự tp. Phan Thiết;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa

Phan Thị Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Sơn xin ly hôn bà Nhi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger