Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HNGÐST

Ngày: 30 - 7 - 2024

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Huỳnh Minh Chánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Lê Văn Qui.

2. Ông: Âu Cần Đông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2024 TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 05 năm 2024 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – ly hôn.” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 07 năm 2024 và giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1975. (Có mặt)

Địa chỉ cư trú: Khu vực 5, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Ông Trần Thanh S, sinh năm 1972. (Có mặt)

Địa chỉ cư trú: Khu vực 5, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T (gọi tắt là bà T) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Thoảng và ông Trần Thanh S quen biết với nhau và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/8/1994 tại Ủy ban nhân xã X, huyện L, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang). Khi ông S cưới bà T về thì vợ, chồng sống chung hạnh phúc được khoảng 2 năm, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau, ông S đi làm có chung sống với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc vợ, con. Hiện tại tình cảm của bà T với ông S không còn nên cuộc sống chung không hạnh phúc bà T và ông S ly thân với nhau từ tháng 01 năm 2024 cho đến nay, nên bà T quyết định ly hôn với ông S.

Về con chung: Có 02 đứa con.

1/Trần T (Giới tính: Nam) sinh ngày 10/9/1996.

2/ Trần Thanh T1 (Giới tính: Nam) sinh ngày 30/10/2007.

Hiện nay cháu D đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết. Riêng cháu T1 có nguyện vọng sống với cha hay mẹ thì người đó có trách nhiệm nuôi và không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Có, nhưng tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Có, nhưng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa bà T vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Thanh S (gọi tắt là ông S) trình bày: Ông S thừa nhận lời trình bày của bà T về quan hệ hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Nhưng ông S không đồng ý ly hôn với bà T với lý do còn thương vợ, con xin được đoàn tụ. Nếu bà T cương quyết Toà án giải quyết cho ly hôn thì con chung theo ai người đó có trách nhiệm nuôi, tài sản chung và nợ chung ông S và bà T tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay, ông Trần Thanh S yêu cầu xin được đoàn tụ để chung sống lo cho con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, cho bà Nguyễn Thanh T và ông Trần Thanh S được ly hôn.
  • - Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thanh T được tiếp tục nuôi con Trần Thanh T1 (Giới tính: N), sinh ngày 30/10/2007, hiện đang chung sống với bà T. Do bà T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Ông Trần Thanh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
  • - Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thanh T và ông Trần Thanh S có nhưng tự thoả thuận không yêu cầu nên không xem xét.
  • - Về nợ chung: Bà Nguyễn Thanh T và ông Trần Thanh S có nhưng tự thoả thuận không yêu cầu nên không xem xét.
  • - Về án phí hôn nhân gia đình: Nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên toà để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn”. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Về nội dung vụ án:

[1]. Về quan hệ hôn nhân:

Nguyễn Thanh T và ông Trần Thanh S tự nguyện kết hôn vào năm 1994, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang) theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống bà T và ông S phát sinh nhiều mâu thuẫn. Bà T cho rằng mâu thuẫn giữa bà và ông S không thể hàn gắn, bà T không còn tình cảm đối với ông S và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên yêu cầu được ly hôn với ông S.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để động viên bà T và ông S đoàn tụ lại gia đình nhưng bà T quyết định ly hôn, đối với ông S thì yêu cầu đoàn tụ. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa bà T và ông S thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Từ đó cho thấy, đời sống chung của vợ chồng bà T và ông S không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ mà bà T yêu cầu xin ly hôn với ông S là phù hợp theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Tại phiên tòa, bà T vẫn cương quyết xin ly hôn với ông S nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T. Cho bà T và ông S được ly hôn.

[2]. Về con chung: Bà T và ông S thừa nhận chung sống với nhau có 02 con chung tên Trần Thanh D1 (Giới tính: Nam), sinh ngày 10/9/1996 và Trần Thanh T1 (Giới tính: Nam) sinh ngày 30/10/2007. Hiện nay cháu D1 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, cháu T1 hiện đang sống với bà T tuỳ theo nguyện vọng của con muốn sống với C hay mẹ thì người đó có trách nhiệm nuôi. Hội đồng xét xử xét thấy, tại bản tự khai của cháu Trần Thanh T1 cũng có nguyện vọng sống với mẹ (bà Nguyễn Thanh T). Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của cháu, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thống nhất giao cháu Trần Thanh T1 cho bà Nguyễn Thanh T tiếp tục nuôi dưỡng. Do bà T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên ông Trần Thanh S chưa phải cấp dưỡng.

Ông Trần Thanh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

[3]. Về tài sản chung: Bà T và ông S khai có, nhưng tự thoả thuận không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét không xem xét.

[4]. Về nợ chung: Bà T và ông S khai có, nhưng tự thoả thuận không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét không xem xét.

[5]. Từ những nhận định trên, xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]. Về án phí hôn nhân gia đình: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 9, 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T đối với bị đơn ông Trần Thanh S.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thanh T được ly hôn với ông Trần Thanh S.

2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thanh T được tiếp tục nuôi con tên Trần Thanh T1, (Giới tính: Nam) sinh ngày 30/10/2007. Hiện đang chung sống với bà T. Do bà T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên ông Trần Thanh S chưa phải cấp dưỡng.

Ông Trần Thanh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung: Bà T và ông S khai có, nhưng tự thoả thuận không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét không xem xét.

4. Về nợ chung: Bà T và ông S khai có, nhưng tự thoả thuận không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét không xem xét.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thanh T phải chịu là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo lai thu số 0007835 ngày 16/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.

6. Các đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạnh 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - THADS thị xã Long Mỹ;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - UBND xã Xà phiên, huyện Long Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Minh Chánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGÐST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 62/2024/HNGÐST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Bả Thoảng và ông Trần Thanh Sang quen biết với nhau và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/8/1994 tại Ủy ban nhân xã Xà Phiên, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang). Khi ông Sang cưới bà Thoảng về thì vợ, chồng sống chung hạnh phúc được khoảng 2 năm, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau, ông Sang đi làm có chung sống với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc vợ, con. Hiện tại tình cảm của bà Thoảng với ông Sang không còn nên cuộc sống chung không hạnh phúc bà Thoảng và ông Sang ly thân với nhau từ tháng 01 năm 2024 cho đến nay, nên bà Thoảng quyết định ly hôn với ông Sang.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger