|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-7-2024 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Tống Văn Truyền
- Ông Trần Văn Tươi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 44/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Dương Thị Cẩm T, sinh năm 2000;
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1998;
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An
(Bà T có Đơn xin vắng mặt, ông H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 17/5/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Dương Thị Cẩm T trình bày:
Năm 2019, bà và ông Nguyễn Hoàng H xác lập quan hệ hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Long An ngày 16/10/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống nhưng không đảm bảo hạnh phúc. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau dẫn đến cãi vả, bà và ông H đã sống ly thân khoảng 03 tháng nay. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về quan hệ con chung: Bà Dương Thị Cẩm T xác định bà và ông H có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 22/11/2020. Hiện cháu Q đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con 900.000đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng nuôi con từ tháng 8/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, bà Dương Thị Cẩm T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án gồm: 01 Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); 01 Giấy khai sinh (bản sao); 01 Căn cước công dân (bản sao).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Nguyên đơn khởi kiện bị đơn có địa chỉ tại xã T, huyện B về việc tranh chấp “Ly hôn”. Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
- Nguyên đơn bà Dương Thị Cẩm T có đơn xin vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Hoàng H đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.
Về nội dung tranh chấp:
- Bà Dương Thị Cẩm T và ông Nguyễn Hoàng H xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Long An ngày 16/10/2019 theo qui định. Căn cứ khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông H là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.
- Xét yêu cầu ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử xét thấy các đương sự kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng có thời gian dài chung sống nhưng không đảm bảo hạnh phúc. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T cho rằng giữa bà T và ông H đã phát sinh mâu thuẫn là vợ chồng không hòa hợp với nhau về mọi mặt, bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau dẫn đến cãi vả. Tuy nhiên, từ sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã cho bà T và ông H thời gian để đoàn tụ nhưng ông H không có ý kiến gì về việc yêu cầu ly hôn của bà T mà vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy, một bên vợ, chồng đã không còn thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cho bà Dương Thị Cẩm T được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H.
- Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Theo lời trình bày của bà Dương Thị Cẩm T cùng các chứng cứ do bà Dương Thị Cẩm Tiên cung c thì bà T và ông H có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 22/11/2020. Xét thấy, cháu Nguyễn Hoàng Q đang sống cùng bà T, cuộc sống đã ổn định. Do đó, để đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý của cháu Q nên giao cháu Q cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung sau khi bà T và ông H ly hôn không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của bà T và ông H. Bà T là người trực tiếp nuôi con và yêu cầu ông H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Q mỗi tháng 900.000 đồng là phù hợp với Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình nên buộc ông H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Q mỗi tháng 900.000đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8/2024 đến khi cháu Q đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà T trình bày không có tài sản chung và xác định vợ chồng không có nợ chung. Ông H vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Dương Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Ông Nguyễn Hoàng H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điểm a khoản 1 các Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Dương Thị Cẩm T về việc “Ly hôn” với ông Nguyễn Hoàng H.
- Về hôn nhân: Bà Dương Thị Cẩm T được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng H.
-
Về quyền nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Dương Thị Cẩm T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 22/11/2020. Ông Nguyễn Hoàng H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Q mỗi tháng 900.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 8/2024 đến khi cháu Q đủ 18 tuổi.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp phí tổn nuôi con.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí: Bà Dương Thị Cẩm T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng. Khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007038 ngày 15/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức chuyển sang án phí. Ông Nguyễn Hoàng H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Nga |
Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thị Cẩm Tiên "Ly hôn" Nguyễn Hoàng Huy
