|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2024/HS-ST Ngày 29 - 8 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Biên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Thiện.
Ông Trần Anh Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Khánh Ly, thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Lệ Toàn, Kiểm sát viên .
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L, sinh năm 1989, tại huyện T, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn G, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1969; chồng: Giáp Văn T và có 03 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1972, đã chết.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- + Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1994, có mặt.
- + Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1971, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn D, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- + Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1933, địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị Á, sinh năm 1991, địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
(Bà M, ông V, chị Á ủy quyền cho anh S tham gia tố tụng)
Người làm chứng: Bà Hoàng Thị N, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 25/3/2024, Nguyễn Thị L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 đi trên đường liên xã theo hướng xã C đi xã A. Khi đi đến đoạn đường cánh đồng thuộc thôn D, xã C, huyện T, L phát hiện thấy phía trước là bà Nguyễn Thị L2 và bà Hoàng Thị N đang đi bộ, bên phải đường (bà N đi trước bà L2 đi sau, cách nhau khoảng hơn 1 mét). Ngay sau khi phát hiện thấy bà L2 và bà N ở phía trước do khoảng cách quá gần, đầu xe mô tô của L đã va vào bà L2 làm xe mô tô đổ xuống đường, L và bà L2 cùng bị ngã, bị thương phải đi cấp cứu tại bệnh viện, đến ngày 26/3/2024 bà L2 tử vong. Ngay sau khi xảy ra sự việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường liên xã C đi A, thuộc thôn D, xã C, huyện T. Đường thẳng, mặt đường trải bê tông bằng phẳng, lòng đường rộng 05m. Hai bên đường là lề đất, theo hướng xã C đi xã A, lề đường bên phải rộng 0,9m, lề đường bên trái rộng 1,5m. Quá trình khám nghiệm xác định mép ngoài cống Đ trên lề đường, bên phải hướng xã C đi xã A làm điểm mốc. Lấy mép đường bê tông bên phải theo hướng xã C đi xã A làm chuẩn.
Tại hiện trường phát hiện:
- + Dấu vết mài sát bám dính cao su trên mặt đường bê tông, ký hiệu (1) kích thước (4,25x0,02)m, chiều hướng xã C đi xã A. Đo từ mép đường bê tông lấy làm chuẩn đến điểm đầu dấu vết (1) là 2,26m; Điểm cuối dấu vết (1) là 2,5m.
- + Đo từ điểm mốc đến điểm đầu dấu vết (1) là 31m, cách điểm đầu dấu vết (1) là 4,3m phát hiện điểm đầu đám vết cày xước mặt đường bê tông, ký hiệu (2) đứt quãng, có chiều hướng xã C đi xã A, có kích thước (8x0,7)m. Điểm cuối dấu vết (2) trùng với đầu để chân sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070. Đo từ mép đường bê tông lấy làm chuẩn đến: Điểm đầu dấu vết (2) là 3m; Điểm cuối dấu vết (2) là 2,7m.
- + Cách điểm đầu dấu vết (2) 3,7m phát hiện tâm vùng máu dạng nhỏ giọt, ký hiệu (3), kích thước (1,6x0,6)m. Đo từ tâm dấu vết (3) đến: Mép đường bê tông lấy làm chuẩn là 4,03m; T1 trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 là 4,6m.
- + Xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 đổ nghiêng bên trái, toàn bộ xe nằm trong lòng đường bê tông. Đo từ mép đường bê tông lấy làm chuẩn đến: T1 trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 là 2,6m; T1 trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 là 3,05m.
- + Tiến hành do từ điểm mốc đến: T1 trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 là 18,45m; T1 trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 là 19,05m. Mở rộng hiện trường không phát hiện dấu vết, đồ vật, tài liệu có liên quan.
- + Quá trình khám nghiệm đã thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 98N8 - 4070.
Ngày 26/3/2024, Cơ quan điều tra đã kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy đối với Nguyễn Thị Lâm thời đ xảy ra vụ tai nạn giao thông. Kết quả, không phát hiện cồn và các chất ma túy trong mẫu máu của L.
Ngày 26/3/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành dựng lại hiện trường, kết quả như sau: Lấy mép đường bên phải theo hướng xã C đi xã A làm chuẩn. Xác định cống thoát nước bên phải đường hướng phía xã C làm mốc.
- - Dấu vết cày xước mặt đường bám dính chất màu đen, dạng cao su, ký hiệu (1), kích thước (10,2x0,1)m, chiều hướng xã C đi xã A, chếch chéo từ phải sang trái. Điểm đầu vết cách điểm mốc 31m về hướng xã C, cách mép đường làm chuẩn 2,26m. Điểm cuối vết cách mép đường làm chuẩn 2,74m và trùng với để chân trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070.
- - Dấu vết cày xước, mài trượt mặt đường dạng không liên tục, bám dính chất màu đen dạng cao su, chiều hướng xã C đi xã A, ký hiệu (2), kích thước (7,9x0,5)m. Điểm đầu vết cách điểm đầu dấu vết (1) là 4,25m về hướng xã A, cách mép đường làm chuẩn 3,05m. Điểm cuối vết cách mép đường làm chuẩn 3,4m và trùng với chân gương chiếu hậu bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070.
- - Dấu vết máu nhỏ giọt trên mặt đường, ký hiệu (3), kích thước (1,6x0,6)m. T1 vết cách điểm đầu dấu vết (2) là 3,65m về hướng xã A, cách mép đường làm chuẩn 4,03m.
- - Xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 đổ nghiêng trái trên mặt đường, ký hiệu (4), đầu xe quay hướng xã A, chếch chéo về mép đường bên trái. T1 trục bánh trước cách điểm đầu dấu vết (2) là 8,65m về hướng xã A, cách mép đường làm chuẩn 3,05m. T1 trục bánh sau cách điểm đầu dấu vết (2) là 7,5m, cách mép đường làm chuẩn 2,6m.
- - Dấu vết mài trượt mặt đường, sạch bụi đất, ký hiệu (5), kích thước (1,7x0,55)m, chiều hướng xã C đi xã A, chếch chéo từ trái sang phải. Điểm đầu vết cách điểm đầu dấu vết (1) là 1,6m về hướng xã A, cách mép đường làm chuẩn 0,7m. Điểm cuối vết cách mép đường làm chuẩn 0,2m.
- - Vị trí được người làm chứng xác định là điểm va chạm đầu tiên, ký hiệu (6), cách điểm đầu dấu vết (1) là 13,3m về hướng xã C, cách mép đường làm chuẩn 0,7m.
* Kết quả khám phương tiện:
Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, biển kiểm soát 98N8 - 4070: Xe không có gương chiếu hậu bên phải, gương chiếu hậu bên trái gãy khuyết một nửa, mặt trước chân gương có vết mài sát kim loại bám dính bụi đất, kích thước (4x0,5)cm. Đầu xe cong vênh hướng từ trái sang phải, đầu tay nắm bên trái có vết mài sát kim loại, kích thước (2x1)cm. Mặt trước ốp nhựa viền và ốp nhựa đèn xi nhan trước bên trái có vết mài sát sơn nhựa, kích thước (13x4)cm, mặt trước ốp nhựa đèn xi nhan trước bên phải có vết mài sát nhựa, kích thước (2x1)cm. Cánh yếm bên phải nứt, vỡ nhựa, kích thước (23x23)cm, mặt trước phía trên có nhiều vết mài sát, sạch bụi kích thước (30x20)cm, đầu dưới cánh yếm bên phải có vết nứt vỡ nhựa, kích thước (14x0,2)cm, mặt trước có vết mài sát sạch bụi kích thước (28x8)cm, mặt trước cánh yếm bên trái có vết mài sát sơn nhựa, kích thước (6x1)cm. Ốp nhựa mặt nạ trước đầu xe có vết nứt, vỡ nhựa, kích thước (8x2)cm, bên trái đầu chắn bùn phía trước có vết mài sát sơn nhựa, kích thước (5x4)cm, mặt ngoài bên phải chắn bùn phía trước có vết mài sát sạch bụi, kích thước (25x18)cm. Đầu để chân trước bên trái có vết mài sát cao su, kim loại bám dính chất bột màu trắng, kích thước (4,5x3,5)cm, đầu để chân sau bên trái có vết mài sát cao su, kim loại bám dính chất bột màu trắng, kích thước (4x4)cm. Cạnh trái tay sách phía sau có vết mài sát cao su, kích thước (12x3)cm.
* Kết quả khám nghiệm tử thi Nguyễn Thị L2:
- Khám ngoài:
- + Vùng đầu: Tóc đen dài ngang vai; Vùng chẩm sưng nề bầm tím, kích thước (9x7)cm; Vùng thái dương trái và sau tai trái có vết thương bầm tím, kích thước (8x6)cm.
- + Vùng mặt: Hai mắt nhắm tự nhiên; Mũi; Miệng; Hai tai khô, không thấy dấu vết thương tích.
- + Vùng cổ: Cổ chắc, không thấy dấu vết thương tích.
- + Vùng ngực, bụng, lưng, mông: Vùng thắt lưng phải có vết bầm tím, kích thước (15x6,5)cm, vùng hông bên phải có vết trợt da, kích thước (8x7)cm. Tay phải: Khuỷu tay phải có vết bầm tím, kích thước (6,5x5)cm; Mặt sau 1/3 dưới cẳng tay phải và mu bàn tay phải sưng nề bầm tím, kích thước (24x14)cm. Tay trái: Khuỷu tay trái có vết bầm tím, kích thước (7x6)cm. Chân trái: Mặt sau 1/3 dưới đùi trái có vết bầm tím, kích thước (6x4)cm; Mặt sau cẳng chân trái có vết trợt da, kích thước (9x5)cm. Chân phải: Không thấy dấu vết thương tích.
- + Bộ phận sinh dục không thấy tổn thương. Hậu môn không thoát phân.
- Mổ tử thi:
- + Sọ não: Bộc lộ vết thương vùng chẩm thấy tụ máu dưới da, kích thước (9x8)cm. Vỡ xương sọ qua ụ chẩm, kích thước (4x0,2)cm, qua khe xương vỡ có máu màu đỏ chảy ra ngoài.
- Tại Kết luận giám định tử thi số: 4723/KLGĐTT-TTPY ngày 10/4/2024 của Trung tâm pháp y, Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
1. Các kết quả chính qua giám định:
- - Khám ngoài: Vùng chẩm sưng nề bầm tím. Vùng thái dương trái và sau tai trái bầm tím. Vùng thắt lưng phải bầm tím. Vùng hông phải có vết trợt da. Khuỷu tay phải có vết bầm tím. Mặt sau 1/3 dưới cẳng tay phải và mu tay phải có vết sưng nề bầm tím. Khuỷu tay trái có vết bầm tím. Mặt sau 1/3 dưới đùi trái có vết bầm tím. Mặt sau cẳng chân trái có vết trợt da.
- - Khám trong: Sọ não: Bộc lộ vết thương vùng chẩm thấy tụ máu dưới da. Vỡ xương sọ qua ụ chẩm. Qua khe xương sọ vỡ có máu màu đỏ chảy ra ngoài.
2. Kết luận:
- - Nguyên nhân chết: Chết do chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, chảy máu nội sọ do tai nạn giao thông.
3. Kết luận khác:
- - Thời gian chết cách thời điểm khám nghiệm dưới 06 giờ.
- - Các thương tích ở mục kết quả chính qua giám định là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của chị Nguyễn Thị L2.
- - Cơ chế, chiều hướng, vật, lực gây nên thương tích: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng và lực gây thương tích.
Tại Kết luận giám định số: 984/KL-KTHS ngày 03/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Dấu vết trượt xước sơn, nhựa, sạch bụi đất, tạo thành các đường thẳng song song (dạng vân vải) tại bên phải ốp nhựa đầu xe, đèn xi nhan trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 8 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật có bề mặt vải sợi (như cơ thể nạn nhân Nguyễn Thị L2 mặc quần áo) tạo nên. Vị trí va chạm trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết mài trượt ký hiệu số 1 và hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 2, không xác định được thuộc phần đường bên phải hay trái theo hướng xã C đi xã A.
- Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 chuyển động theo hướng xã C đi xã A. Không xác định được tư thế khi xảy ra va chạm.
- Dấu vết gãy vỡ, trượt xước sơn, nhựa, sạch bụi đất tại cánh yếm bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 12, 13 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày tạo nên. Không đủ căn cứ để xác định là do va chạm với cơ thể người hay phương tiện khác.
- Dấu vết gãy vỡ, mài sát sơn, nhựa, cao su, kim loại tại bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 gồm: Gương chiếu hậu, đầu tay nắm, xi nhan trước, ốp nhựa đầu xe, cánh yếm, chắn bùn, để chân trước, để chân sau, tay xách phía sau được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẫn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù họp với quá trình xe mô tô biển kiếm soát 98N8 - 4070 đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường tạo nên dấu vết mài trượt ký hiệu số 1 và hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 2.
- Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
Ngày 29/3/2024, Cơ quan điều tra lập biên bản làm việc xác định thương tích của Nguyễn Thị L như sau: Bị thương ở mắt phải, dập lá mía mũi, chấn thương hàm, xây xát chân tay, hiện đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tạm giữ 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...], mang tên Nguyễn Thị L và 01 đăng ký xe mô tô số 004666 của xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070.
Tại Công văn số: 929/SGTVT-QLVTPT&NL ngày 19/4/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh B cung cấp thông tin như sau: Sở G có cấp 01 Giấy phép lái xe mô tô số [...], ngày cấp 21/4/2014 cho Nguyễn Thị L, sinh ngày 26/4/1989, số CMND [...], hộ khẩu thường trú xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 12/6/2024, Cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra xác định khả năng quan sát của người điều khiển xe mô tô khi xảy ra tai nạn trong điều kiện trời tối, xe mô tô có bật đèn chiếu sáng. Quá trình thực nghiệm, Cơ quan điều tra cho người đóng thế đứng tại vị trí dấu vết ký hiệu số (5) (theo biên bản dựng lại hiện trường). Tịnh tiến xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 đến các vị trí trên đường, bật đèn chiếu sáng để đánh giá khả năng quan sát khi điều khiển xe mô tô.
- - Theo lời trình bày của Nguyễn Thị L, đưa xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 tịnh tiến theo hướng xã C đi xã A đến vị trí trục bánh trước cách tâm dấu vết (5) là 2,6m, cách mép đường bên phải 01m, trục bánh sau cách mép đường bên phải 01m. Tại vị trí này đến vị trí dấu vết số (5) đều quan sát được thấy người đóng thế.
- - Từ vị trí theo lời trình bày của Nguyễn Thị L, Cơ quan điều tra tiến hành lùi xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 về phía sau đến khi không quan sát thấy người đóng thế. Tiến hành đo đạc vị trí, khoảng cách trục bánh trước xe mô tô cách tâm dấu vết (5) là 35,2m, cách mép đường bên phải 01m, trục bánh sau xe mô tô cách mép đường bên phải 01m. Tại vị trí này tịnh tiến xe mô tô về phía trước đến vị trí dấu vết số (5) thì quan sát thấy người đóng thế, lùi xe mô tô về phía sau thì không quan sát thấy người đóng thế.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị L khai nhận: Do trời tối, đoạn đường không có đèn đường nên không xác định được xe mô tô của L cách bà L2 mấy mét mà chỉ xác định là thấy bà L2 đi bộ ở phía trước cùng chiều ngay trước gần đầu xe mô tô của L. Do khoảng cách gần L không kịp tránh nên phần đầu xe mô tô đã va chạm vào người bà L2 làm bà L2 văng về phía trước ngã xuống đường bất tỉnh. Xe mô tô do L điều khiển cũng đổ ra đường, cách vị trí của bà L2 khoảng 3m (hướng về xã A), L bị thương ở vùng mặt. Bà L2 và L được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện, sau đó bà L2 tử vong.
Tại bản cáo trạng số: 59/CT-VKS ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát huyện T, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 28 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả bị cáo 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Thị L.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo Nguyễn Thị L trình bày: Bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội; bị cáo đã khắc phục hậu quả và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất và được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của người làm chứng không làm ảnh hưởng tới sự thật khách quan của vụ án, căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Về tội danh và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của nhân chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 25/3/2024, tại đoạn đường liên xã thuộc thôn D, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Nguyễn Thị L (là người có giấy phép lái xe) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ đến mức an toàn khi tầm nhìn bị hạn chế do trời tối, dẫn đến va chạm với bà Nguyễn Thị L2 đi bộ cùng chiều phía trước. Căn cứ các dấu vết tại hiện trường, các dấu vết trên xe mô tô liên quan đến tai nạn giao thông, các bản Kết luận giám định, thì hành vi điều khiển xe mô tô của bị cáo L2 đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và khoản 2 Điều 5 Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G, hậu quả là nghiêm trọng, làm cho bà Nguyễn Thị L2 chết. Hành vi nêu trên của bị cáo L2 đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn do lỗi của bị cáo gây nên, bị cáo điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ đến mức an toàn khi tầm nhìn bị hạn chế do trời tối. Tuy nhiên bị hại cũng có một phần lỗi khi đi bộ không đi vào lề đường bên phải hành lang đường theo chiều đi, bị hại chết là ngoài ý muốn của bị cáo.
Xem xét các tình tiết để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Nguyễn Thị L trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà hôm nay đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền là 100.000.000 đồng, gia đình bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo L đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là anh Nguyễn Văn S số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì về việc bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen, biển kiếm soát 98N8 - 4070; 01 đăng ký xe mô tô số 0004666 là của bị cáo Nguyễn Thị L. Ngày 17/5/2024, Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho bị cáo L là đúng theo quy định.
Đối với bà Nguyễn Thị L2 đi bộ không sát lề đường bên phải theo chiều đi, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật giao thông đường bộ, do bà L2 đã chết nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Đối với 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Thị L thu giữ trong quá trình điều tra, xét thấy các bên liên quan đến vụ tai nạn giao thông đã thỏa thuận giải quyết xong về bồi thường thiệt hại, vì vậy cần trả lại giấy phép lái xe trên cho bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L 01 (một) năm 01 (một) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 02 (hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 29/8/2024.
- - Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
- - Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về vật chứng: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Thị L.
(Vật chứng của vụ án như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên.)
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Biên |
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 25/3/2024, tại đoạn đường liên xã thuộc thôn D, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Nguyễn Thị L (là người có giấy phép lái xe) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98N8 - 4070 do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ đến mức an toàn khi tầm nhìn bị hạn chế do trời tối, dẫn đến va chạm với bà Nguyễn Thị L2 đi bộ cùng chiều phía trước
