Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM MỸ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 62/2024/HSST

Ngày: 29/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Trung

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phạm Văn Thành

2/ Ông Hồ Viết Ân

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/TLST - HS ngày 16/7/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST - HS ngày 18/7/2024 đối với bị cáo:

Chề Cơn S (tên gọi khác R), sinh năm 1998, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: không; con ông: Chề Q, sinh năm 1969 (đã chết) và bà Lồ Lục M, sinh năm 1968 (còn sống); vợ con: bị cáo từng chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 2001 và có 01 người con sinh năm 2021.

- Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/5/2024 và tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện C cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lồ Lộc M1, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  1. Trần Thị S1, sinh năm 1969 (vắng mặt)
  1. Trịnh Chính H, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng: Đoàn Vĩnh L, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

- Người chứng kiến: Trần Ngọc T1, sinh năm 2004 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chề Cơn Sầu là đối tượng nghiện ma túy từ tháng 4 năm 2024 đến nay. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào khoảng 23 giờ ngày 02/5/2024, S gọi điện cho đối tượng tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy đá với số tiền 300.000 đồng thì được N đồng ý. N chỉ chỗ cất giấu ma túy rồi nói S đến lấy, đồng thời để lại tiền tại chỗ cho N sẽ đến lấy sau. Sau đó, S điều xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 60B6 - 895.80 di chuyển đến đoạn đường gần ngã ba hướng về đập “Suối Đôi” thuộc ấp F, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai như N đã hướng dẫn. Tại đây, S lấy một bịch nilong màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa chất ma túy đá được cất giấu dưới một viên gạch (loại gạch 04 lỗ) gần gốc cây khô rồi để lại tiền vào bên trong lỗ gạch như đã thỏa thuận. Lấy ma túy xong, S cất giấu ma túy vào túi quần và đi về nhà tại ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai do bà Lồ Lục M (mẹ ruột của S), sinh năm 1968, ngụ tại ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai làm chủ. Khi về đến nhà, S lấy một phần ma túy trong bịch ra để sử dụng. Sử dụng xong, cất giấu phần ma túy còn lại để lần sau sử dụng tiếp rồi đi ngủ. Chiếc điện thoại di động mà S gọi điện cho đối tượng tên N để mua ma túy đã bị đánh rơi trên đường S đi về nhà.

Khoảng 09 giờ ngày 03/5/2024, Trịnh Chính H (là người nghiện ma túy đá và là bạn của S), sinh năm 1998, ngụ tại ấp H, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 60B6 – 713.87 đến nhà thăm anh trai của SChề Cỏn T2, sinh năm 1994, ngụ tại ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai đang bị bệnh. Trong lúc H đang ngồi chơi ở trước cửa nhà thì S gọi vào phòng nói chuyện, H đồng ý. Sau khi H vào phòng, S lấy một bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy rồi bỏ số ma túy còn thừa ngày hôm qua vào để sử dụng rồi rủ H sử dụng chung. Do bản thân là người nghiện ma túy nên khi S rủ thì H đồng ý. Sau đó, cả hai thay phiên nhau sử dụng chất ma túy.

Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Đoàn Vĩnh L (là bạn của SH), sinh năm 1997, ngụ tại ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mio, biển số 92H-0851 đến nhà S chơi. Khi L vào phòng của S thì thấy SH đang thay phiên nhau sử dụng ma túy. Lúc này, S rủ L sử dụng ma túy chung nhưng L không đồng ý nên đã lấy lý do ra ngoài để mua nước rồi điều khiển xe đi mô tô đến Công an xã L, huyện C để trính báo về sự việc trên. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi SH đang thay phiên nhau sử dụng ma túy tại phòng của S thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 922/KL-KTHS ngày 10 tháng 5 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0383 gam, loại: Methamphetamine. Không hoàn lại mẫu vật, mẫu vật đã sử dụng hết trong công tác giám định.

Vật chứng vụ án:

- 01 phong bì niêm phong có dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ số 922/KL-KTHS ngày 10/5/2024, bên trong có chứa 01 bộ dụng cụ mà bị can S cùng H dùng để sử dụng chất ma túy. Vật chứng trên, hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.

- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi 9A, màu xanh dương. Đây là tài sản hợp pháp của bà Lồ Lục M, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bà M theo quy định.

- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màu xanh. Đây là tài sản hợp pháp của Trịnh Chính H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho H theo quy định.

- 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Vision, biển số 60B6 - 713.87. Đây là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị S1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bà S1 theo quy định.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 60B6 - 895.80 mà bị can S sử dụng để đi mua ma túy của đối tượng tên N. Đây là tài sản hợp pháp của bà Lồ Lục M. Khi S sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội thì bà M không biết nên không xem xét, xử lý đối với chiếc xe trên.

Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKSCM ngày 15/7/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố bị cáo Chề Cơn S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Chề Cơn S mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù giam. Về vật chứng vụ án: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự công an tỉnh Đ số 922/KL-KTHS ngày 10/5/2024, bên trong có chứa 01 bộ dụng cụ mà bị cáo S dùng để sử dụng ma tuý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, không ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ ngày 03/5/2024, tại nhà bà Lồ L thuộc ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai bị cáo Chề Cơn S đã chuẩn bị dụng cụ và ma tuý để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, đồng thời bị cáo rủ Trịnh Chính H cùng sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị bắt quả tang. Tại kết luận giám định số 922/KL-KTHS ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý có khối lượng 0,0383gam loại Mêthamphetamine. Do đó, hành vi của bị cáo Chề Cơn S đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Xét hành vi của bị cáo nhận thấy: Bị cáo là công dân đã trưởng thành nên bị cáo nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thoả mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tính độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Từ những nhận xét, đánh giá nêu trên xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung.

[4] Về vật chứng:

  • 01 phong bì niêm phong có dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ số 922/KL-KTHS ngày 10/5/2024, bên trong có chứa 01 bộ dụng cụ mà bị cáo S cùng H dùng để sử dụng chất ma túy là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.
  • 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi 9A, màu xanh dương; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màu xanh; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Vision, biển số 60B6 - 713.87; xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 60B6 - 895.80 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã xử lý xong nên không xem xét.

[5] Đối với người tên “Ninh” đã bán ma túy cho bị cáo chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Đối với Trịnh Chính H được bị cáo rủ sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên H không biết số ma tuý từ đâu mà có và công cụ để sử dụng ma tuý. Do đó, hành vi của H không cấu thành tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý” của Trịnh Chính H.

Đối với bà Lồ Lục M không biết bị cáo sử dụng trái phép chất ma tuý trong nhà của mình nên không xem xét, xử lý.

[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: bị cáo Chề Cơn S (R) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Chề Cơn S (R) 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.

  1. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ số 922/KL-KTHS ngày 10/5/2024, bên trong có chứa 01 bộ dụng cụ mà bị cáo S cùng H dùng để sử dụng chất ma tuý.

Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/7/2024.

  1. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà thời hạn kháng cáo là 15 người kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an huyện Cẩm Mỹ;
  • - VKSND huyện Cẩm Mỹ;
  • - THADS huyện Cẩm Mỹ;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mai Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HSST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ - TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 62/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chề Cỏn S phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger