Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 28 - 11 - 2023

V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG -TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Chiến

Ông Nguyễn Đình Đại

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 168/2023/ TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXX-ST ngày 01 tháng 11 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 15/2023/TB-TA ngày 17 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Kim C, sinh năm 1994
  • Địa chỉ: Khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
  • Nơi ở hiện tại: Khu N, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Đình K, sinh năm 1992
  • Địa chỉ: Khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
  • (Chị C có đơn xin xét xử vắng mặt, anh K vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Trong đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Kim C trình bày: Chị và anh Nguyễn Đình K kết hôn với nhau ngày 04/6/2012 trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện có đăng ký tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng ở cùng bố mẹ đẻ anh K tại khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hoà thuận đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Anh K chơi bời, không quan tâm đến gia đình, sau đó chị đã dọn về nhà mẹ đẻ tại khu N, xã C, huyện Đ. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm nhau nữa. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K.

  • - Về con chung: Chị và anh K có 03 con chung là Nguyễn Diễm Q, sinh ngày 21/12/2012; Nguyễn Hoàng Thảo N, sinh ngày 08/9/2015 và Nguyễn Bách T, sinh ngày 15/11/2017. Hiện cháu T đang ở cùng chị, còn cháu Q và cháu N đang ở cùng anh K. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, để anh K trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và cháu N. Không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
  1. Bị đơn anh Nguyễn Đình K trình bày: Anh và chị Hoàng Thị Kim C kết hôn với nhau vào ngày 04/6/2012 trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị về sống cùng gia đình bố mẹ anh tại khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống anh và chị C có sảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Đầu năm 2022, chị C đã dọn về nhà mẹ đẻ tại khu N, xã C, huyện Đ. Vợ chồng anh đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm nhau nữa. Nay chị C để nghị Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng giải quyết ly hôn với anh. Quan điểm cua anh là đồng ý ly hôn.

  • Về con chung: Anh và chị C có 03 con chung là Nguyễn Diễm Q, sinh ngày 21/12/2012; Nguyễn Hoàng Thảo N, sinh ngày 08/9/2015 và Nguyễn Bách T, sinh ngày 15/11/2017. Hiện cháu T đang ở cùng chị C, còn cháu Q và cháu N đang ở cùng anh và gia đình anh. Ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và cháu N, để chị C trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Do bận công việc nên anh đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh.

  1. Ý kiến của con chung:

    • - Con chung là cháu Nguyễn Diễm Q, sinh ngày 21/12/2012 có nguyện vọng xin được tiếp tục ở với bố là anh Nguyễn Đình K sau khi bố mẹ ly hôn.
    • - Con chung là cháu Nguyễn Hoàng Thảo N, sinh ngày 08/9/2015 có nguyện vọng xin được ở với bố là anh Nguyễn Đình K sau khi bố mẹ ly hôn.
  2. Qúa trình giải quyết vụ án các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình. Bị đơn anh K đã được Tòa án gửi thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng do bận công việc nên không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Do vậy, Tòa án không thể tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh K đã có quan điểm trình bày và đề nghị Toà án giải quyết và xét xử vắng mặt anh.

  3. Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật

không có vi phạm gì và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1, Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án:

  • + Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa Hoàng Thị Kim C được ly hôn anh Nguyễn Đình K.
  • + Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Diễm Q, sinh ngày 21/12/2012 và Nguyễn Hoàng Thảo N, sinh ngày 08/9/2015 cho anh Nguyễn Đình K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung là cháu Nguyễn Bách T, sinh ngày 15/11/2017 cho chị Hoàng Thị Kim C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị C, anh K không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
  • + Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị C tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Quan hệ trong vụ án này là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn là chị Hoàng Thị Kim C và bị đơn là anh Nguyễn Đình K đều có nơi cư trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn chị C đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt chị C. Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo mở lại phiên tòa hợp lệ cho anh K nhưng anh K không đến Tòa án để tham gia phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Đình K.

  2. Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Kim C và anh Nguyễn Đình K là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn ngày 04/6/2012 tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

    Theo chị C thì Vợ chồng chung sống hoà thuận đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Anh K chơi bời, không quan tâm đến gia đình, sau đó chị đã dọn về nhà mẹ đẻ tại khu N, xã C, huyện Đ. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm nhau nữa. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K. Theo anh K thì quá trình chung sống vợ chồng có sảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Đầu năm 2022, chị C đã dọn về nhà mẹ đẻ tại khu N, xã C, huyện Đ. Vợ chồng anh đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm nhau nữa. Nay chị C để nghị Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng giải quyết ly hôn với anh. Quan điểm cua anh là đồng ý ly hôn. Xét thấy, việc chị C và anh K thuận tình ly hôn là phù hợp với điều 55 Luật hôn nhân và gia đình. Do vậy cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị C và anh K.

  3. Về con chung: Chị C và anh K có 03 con chung là Nguyễn Diễm Q, sinh ngày 21/12/2012; Nguyễn Hoàng Thảo N, sinh ngày 08/9/2015 và Nguyễn Bách T, sinh ngày 15/11/2017. Hiện cháu T đang ở cùng chị C, còn cháu Q và cháu N đang ở cùng anh K và gia đình anh K. Ly hôn, chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, để anh K trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và cháu N. Anh K có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và cháu N, để chị C trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Chị C và anh K đều không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Nguyện vọng của con chung là cháu Nguyễn Diễm Q và Nguyễn Hoàng Thảo N đều muốn tiếp tục được ở cùng bố. Xét thấy việc tự nguyện thỏa thuận về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn của chị C và anh K là tự nguyện và phù hợp nên cần chấp nhận. Vì vậy cần giao con chung là cháu Nguyễn Bách T, sinh ngày 15/11/2017 cho chị Hoàng Thị Kim C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung là cháu Nguyễn Diễm Q, sinh ngày 21/12/2012 và cháu Nguyễn Hoàng Thảo N, sinh ngày 08/9/2015 cho anh Nguyễn Đình K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị C và anh K không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau do anh chị tự nguyện không yêu cầu là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị C và anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.

  5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Xét thấy việc chị C tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp, nên cần chấp nhận.

  6. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.

  7. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1, Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án:

  1. Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị Kim C và anh Nguyễn Đình K.

  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Bách T, sinh ngày 15/11/2017 cho chị Hoàng Thị Kim C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung là cháu Nguyễn Diễm Q, sinh ngày 21/12/2012 và cháu Nguyễn Hoàng Thảo N, sinh ngày 08/9/2015 cho anh Nguyễn Đình K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Chị C và anh K không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Chị C và anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

  2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Hoàng Thị Kim C tự nguyện xin chịu cả 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Xác nhận chị C đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0004506 ngày 05/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả cho chị C 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Báo cho các đương sự (vắng mặt) tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án, để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đoan Hùng;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - UBND xã Hùng Long;
  • - Lưu HS + VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2023/HNGĐ-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 62/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị Kim C và anh Nguyễn Đình K.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger