Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày 28 - 8 - 2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ.

    Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thành.

    Ông Nguyễn Văn Trò.

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Phùng Hữu T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 20 tháng 8 năm 1992 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu L, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12

    Bố đẻ: Phùng Hữu H (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1969 hiện ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1997, hiện ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2023.

    Gia đình bị cáo có 2 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

    Tiền án: Không.

    Tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 15/6/2014, bị cáo bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 350.000đ về hành vi đánh bạc.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 01/5/2024. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 03/5/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  2. Họ tên: Đặng Văn L1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 08 tháng 7 năm 1995 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu L, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12

    Bố đẻ: Đặng Văn D, sinh năm 1966; Mẹ đẻ: Hoàng Thị P, sinh năm 1969 hiện đều ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ, con: chưa có

    Gia đình bị cáo có 2 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

    Tiền án: Không

    Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 01/5/2024. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 03/5/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  3. Họ tên: Đặng Văn K; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 17 tháng 3 năm 1974 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu L, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 2/12

    Bố đẻ: Đặng Văn T2 (đã chết), Mẹ đẻ: Phùng Thị T3, sinh năm 1939 hiện ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Vũ Thị Kim N, sinh năm 1984 (đã ly hôn).

    Bị cáo có 01 người con sinh năm 2013.

    Gia đình bị cáo có 6 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 6 trong gia đình.

    Tiền án: Không.

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 01/5/2024. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 03/5/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  4. Họ tên: Vũ Đình N1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 03 tháng 12 năm 1995 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu L, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12

    Bố đẻ: Vũ Đình D1, sinh năm 1960; Mẹ đẻ: Phùng Thị H1, sinh năm 1961 hiện đều ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1996(đã ly hôn).

    Bị cáo có 01 người con sinh năm 2016.

    Gia đình bị cáo có 3 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình.

    Tiền án: Không.

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 01/5/2024. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 03/5/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  5. Họ tên: Nguyễn Văn N2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 14 tháng 4 năm 1974 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu L, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12

    Bố đẻ: Nguyễn Ngọc C (đã chết), Mẹ đẻ: Trần Thị N3, sinh năm 1953 hiện ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Nguyễn Thị D2, sinh năm 1974, hiện ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2002.

    Gia đình bị cáo có 5 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình.

    Tiền án: Không.

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 01/5/2024. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 03/5/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  6. Họ tên: Hoàng Văn N4; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 08 tháng 10 năm 1978 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu L, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12

    Bố đẻ: Hoàng Văn N5, sinh năm 1954; Mẹ đẻ: Đặng Thị S, sinh năm 1956 hiện ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1980, hiện ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2006.

    Gia đình bị cáo có 4 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

    Tiền án: Không.

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 01/5/2024. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 03/5/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

  7. Họ tên: Nguyễn Văn S1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 29 tháng 11 năm 1978 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu L, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12

    Bố đẻ: Nguyễn Văn V1 (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị S2, sinh năm 1950 hiện ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Nguyễn Thanh X, sinh năm 1982, hiện ở xã T, huyện M, tỉnh Lào Cai.

    Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2015.

    Gia đình bị cáo có 5 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình.

    Tiền án: Không.

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 01/5/2024. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 03/5/2024. Hiện đang tại ngoại tại xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn D, sinh năm 1966. Địa chỉ: Khu L, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 23 giờ 45 phút ngày 30/4/2024, tại gian phòng khách của gia đình ông Đặng Văn D, sinh năm 1966 ở khu L, xã V, huyện C, Công an xã V, huyện C phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn N2, sinh năm 1974; Đặng Văn K, sinh năm 1974; Vũ Đình N1, sinh năm 1995; Nguyễn Văn S1, sinh năm 1978; Hoàng Văn N4, sinh năm 1978; Phùng Hữu T, sinh năm 1992; Đặng Văn L1, sinh năm 1995 đều trú tại khu L, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh Liêng sát phạt nhau bằng tiền.

Vật chứng thu giữ:

  • + 01 vỏ chăn nhung có nhiều hoa văn.

  • + 52 quân bài tú lơ khơ, 5.500.000đ tiền ngân hàng N6 đang lưu hành.

  • + Thu giữ phía sau chỗ ngồi đánh bạc, tại kệ để ti vi số tiền 1.200.000đ.

Công an xã V đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, rồi tiến hành giải người bị bắt đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và bàn giao hồ sơ ban đầu, vật chứng thu giữ theo quy định.

Quá trình điều tra đã xác định được như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 30/4/2024, Nguyễn Văn N2, Đặng Văn K, Vũ Đình N1, Nguyễn Văn S1, Hoàng Văn N4, Phùng Hữu T đến nhà ông Đặng Văn D để chơi. Khi đến nơi, gia đình ông D đã đi ngủ, chỉ có Đặng Văn L1 (L1 là con trai ông D, đang ở cùng nhà với ông D) đang ngồi chơi tại phòng khách của gia đình. Tại đây, Nguyễn Văn N2, Đặng Văn K, Vũ Đình N1, Nguyễn Văn S1, Hoàng Văn N4, Phùng Hữu T, Đặng Văn L1 rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh Liêng sát phạt nhau bằng tiền, mỗi ván thấp nhất là: 10.000đ, ai tố cao hơn thì tùy nhưng không quá 100.000đ, tất cả đều đồng ý. L1 là người lấy bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở nhà và trải 01 vỏ chăn nhung có nhiều hoa văn xuống nền nhà phòng khách để các đối tượng ngồi đánh bạc. Quá trình đánh bạc các đối tượng không phải nộp tiền “ hồ” ( tiền thuê địa điểm cho ai).

Hình thức đánh liêng là: Người cầm cái sử dụng 52 quân bài tú lơ khơ chia cho mỗi người 03 quân bài, quy định: quân A đến quân 9 là từ 1 đến 9 điểm, quân 10, j,q, k là 0 điểm, chất rô là lớn nhất tiếp theo là chất cơ, tép, bích. Sau đó, từng người lên bài và cộng điểm. Sau khi cộng điểm xong, người chia bài sẽ là được tố đầu tiên, nếu không có ai tổ hoặc theo thì tất cả thua và mất số tiền đã cược cho người tố, nếu có người tổ hoặc theo thì sau đó tính điểm, cao nhất là 9 điểm, thấp nhất là 0 điểm, ai cao điểm nhất thì thắng bạc và được tất cả số tiền của những người chơi. Người nào thắng bạc thì được chia ván tiếp theo. Ván đầu tiên N2 là người chia bài.

Trước khi tham gia đánh bạc Nhật có 800.000đ, K có 1.500.000đ, N1 có 1.000.000đ, S1 có 150.000đ, Nam có 500.000đ, T có 1.000.000đ, L1 có 1.750.000₫ tất cả đều sử dụng vào mục đích đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.700.000đ.

Khi đánh bạc, các đối tượng đều để tiền xuống trước mặt, trên vỏ chăn nhung, quá trình Công an xã V phát hiện, bắt quả tang, L1 đã cầm và vứt số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.200.000đ lên kệ để tivi phía sau chỗ ngồi đánh bạc.

Các đối tượng đánh bạc liên tục đến 23 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an xã V phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn N2, Đặng Văn K, Vũ Đình N1, Nguyễn Văn S1, Hoàng Văn N4, Phùng Hữu T, Đặng Văn L1 đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 48/CT-VKSCK-HS ngày 02/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo về tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

  • *Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N2, Đặng Văn K, Vũ Đình N1, Nguyễn Văn S1, Phùng Hữu T, Đặng Văn L1.

  • *Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn N4.

  • *Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N2, Đặng Văn K, Vũ Đình N1, Nguyễn Văn S1, Hoàng Văn N4, Phùng Hữu T, Đặng Văn L1 phạm tội “đánh bạc”.

  • * Về hình phạt:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên Tòa. Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp.

  2. [2]. Về những chứng cứ xác định có tội được xác định như sau:

    Trong khoảng thời gian từ hơn 22 giờ đến 23 giờ 45 phút ngày 30/4/2024, tại gian phòng khách của của gia đình ông Đặng Văn D, sinh năm 1966 ở khu L, xã V, huyện C, Nguyễn Văn N2, Đặng Văn K, Vũ Đình N1, Nguyễn Văn S1, Hoàng Văn N4, Phùng Hữu T, Đặng Văn L1 đã có hành vi Đánh bạc dưới hình thức đánh Liêng sát phạt nhau bằng tiền bị Công an xã V, huyện C bắt quả tang. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.700.000đ

    Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn N2, Đặng Văn K, Vũ Đình N1, Nguyễn Văn S1, Hoàng Văn N4, Phùng Hữu T, Đặng Văn L1 đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

    Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

    1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    ...”

    Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi đánh bạc của mình, do đó, cáo trạng số 48/CT -VKSCK- HS ngày 02/8/2024 của VKSND huyện Cẩm Khê đã truy tố các bị cáo trên về tội đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ chấp nhận.

  3. [3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

    Các bị cáo thực hiện hành vi đồng phạm giản đơn, thực hiện lỗi cố ý; mức độ phạm tội là ít nghiêm trọng, nhưng số lượng bị cáo tham gia nhiều, đã xâm phạm trật tự quản lý công cộng, gây dư luận xấu trong xã hội, nên hành vi của các bị cáo phải bị xử lý nghiêm.

  4. [4]. Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Các bị cáo đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

    Bị cáo Hoàng Văn N4 có bố đẻ là ông Hoàng Văn N5 được thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì nên bị cáo N4 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

    Về nhân thân của các bị cáo:

    Đối với bị cáo Phùng Hữu T: Ngày 15/6/2014, bị cáo bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 350.000đ về hành vi đánh bạc.

    Các bị cáo Nguyễn Văn N2, Đặng Văn K, Vũ Đình N1, Nguyễn Văn S1, Hoàng Văn N4, Đặng Văn L1 có nhân thân tốt.

    Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng: Chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo cũng đảm bảo trừng trị, giáo dục riêng đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa trong xã hội.

  5. [5]. Về hình phạt bổ sung:

    Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000đồng”.

    Xét thấy: Các bị cáo đều là lao động tự do, không có tài sản riêng nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo là phù hợp.

  6. [6]. Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:

    - Đối với số tiền 6.700.000₫ (Sáu triệu bẩy trăm nghìn đồng) Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã gửi vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê (có giấy nộp kèm theo) là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

    - Đối với 01 vỏ chăn nhung có nhiều hoa văn; 52 quân bài tú lơ khơ là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu huỷ.

    Trong vụ án này, các đối tượng sử dụng nhà ở của ông ông Đặng Văn D (chủ nhà) làm địa điểm để đánh bạc. Tuy nhiên khi các đối tượng trên đánh bạc, ông D đã đi ngủ và không biết việc các đối tượng trên đánh bạc. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C không đề cập xử lý đối với ông D là phù hợp.

  7. [7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

  8. [8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • *Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N2, Đặng Văn K, Vũ Đình N1, Nguyễn Văn S1, Phùng Hữu T, Đặng Văn L1.

  • *Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn N4.

  • *Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N2, Đặng Văn K, Vũ Đình N1, Nguyễn Văn S1, Hoàng Văn N4, Phùng Hữu T, Đặng Văn L1 phạm tội “đánh bạc”.

  • * Về hình phạt:

  • - Xử phạt bị cáo Phùng Hữu T 16 (Mười sáu) tháng cải tạo không giam giữ (Được trừ 03 ngày tạm giữ từ ngày 01/5/2024 đến ngày 03/5/2024 qui đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo còn phải chấp hành 15 (Mười lăm) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Phùng Hữu T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Phùng Hữu T tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

  • - Xử phạt bị cáo Đặng Văn L1 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ (Được trừ 03 ngày tạm giữ từ ngày 01/5/2024 đến ngày 03/5/2024 qui đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo còn phải chấp hành 14 (Mười bốn) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Đặng Văn L1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Đặng Văn L1 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

  • - Xử phạt bị cáo Đặng Văn K 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ (Được trừ 03 ngày tạm giữ từ ngày 01/5/2024 đến ngày 03/5/2024 qui đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo còn phải chấp hành 11 (Mười một) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Đặng Văn K cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Đặng Văn K tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

  • - Xử phạt bị cáo Vũ Đình N1 11 (Mười một) tháng cải tạo không giam giữ (Được trừ 03 ngày tạm giữ từ ngày 01/5/2024 đến ngày 03/5/2024 qui đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo còn phải chấp hành 10 (Mười) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo N1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Vũ Đình N1 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N2 10 (Mười) tháng cải tạo không giam giữ (Được trừ 03 ngày tạm giữ từ ngày 01/5/2024 đến ngày 03/5/2024 qui đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo còn phải chấp hành 09 (Chín) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo N2 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Văn N2 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

  • - Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N4 08 (T4) tháng cải tạo không giam giữ (Được trừ 03 ngày tạm giữ từ ngày 01/5/2024 đến ngày 03/5/2024 qui đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo còn phải chấp hành 07 (Bẩy) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo N4 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nam tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S1 07 (Bẩy) tháng cải tạo không giam giữ (Được trừ 03 ngày tạm giữ từ ngày 01/5/2024 đến ngày 03/5/2024 qui đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo còn phải chấp hành 06 (Sáu) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo S1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo S1 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Nguyễn Văn N2, Đặng Văn K, Vũ Đình N1, Nguyễn Văn S1, Hoàng Văn N4, Phùng Hữu T, Đặng Văn L1.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N2, Đặng Văn K, Vũ Đình N1, Nguyễn Văn S1, Hoàng Văn N4, Phùng Hữu T, Đặng Văn L1 phải lao động phục vụ cộng đồng, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 6.700.000đ (Sáu triệu bẩy trăm nghìn đồng) Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã gửi vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê (có giấy nộp kèm theo) là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ chăn nhung có nhiều hoa văn; 52 quân bài tú lơ khơ.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).

  • *Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Văn N2, Đặng Văn K, Vũ Đình N1, Nguyễn Văn S1, Hoàng Văn N4, Phùng Hữu T, Đặng Văn L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  • *Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở UBND nơi họ cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • -VKSND huyện Cẩm Khê;

  • -VKSND tỉnh Phú Thọ;

  • -UBND xã nơi B/c cư trú;

  • -CQCSĐT CA huyện Cẩm Khê;

  • -THADS huyện Cẩm khê;

  • -THA Hình sự;

  • -Người tham gia tố tụng;

  • -Lưu hồ sơ+VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Bộ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger