|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28-6-2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Nhớ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Bảy
2. Ông Nguyễn Chí Hữu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 151/2024/TLST HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 08/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 74/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 19/6/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Cẩm V, sinh năm 1977 (xin vắng); Địa chỉ: 1 Quốc lộ A, khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bị đơn: Ông Lý Văn Ú, sinh năm 1972 (vắng mặt); Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/5/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm V trình bày: Bà và ông Lý Văn Ú tự tìm hiểu quen biết, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C (nay là xã P, huyện M), tỉnh Bến Tre vào ngày 19/3/1996. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2004 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vả nhau do bất đồng quan điểm sống giữa vợ và chồng không còn hoà hợp và đã sống ly thân từ năm 2004 cho đến nay, vợ chồng đã hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Do thời gian sống ly thân đã lâu nên không thể hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Nay bà xin Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lý Văn Ú, không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng giữa vợ và chồng. Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Lý Viễn L, sinh năm 1996, hiện con chung đã trưởng thành. Tài sản chung: để vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết; nợ chung: không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Lý Văn Ú đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày ý kiến của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Trần Thị Cẩm V yêu cầu ly hôn với ông Lý Văn Ú nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân; bị đơn ông Lý Văn Ú có hộ khẩu thường trú, hiện đang có mặt và sinh sống tại xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre nên căn cứ khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
Bà Trần Thị Cẩm V có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Lý Văn Ú đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Về hôn nhân: Ông Ú và bà V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không vi phạm các điều kiện kết hôn nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Phía bà V cho rằng, sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2004 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vả nhau do bất đồng quan điểm sống giữa vợ và chồng không còn hoà hợp và đã sống ly thân từ năm 2004 cho đến nay, vợ chồng đã hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự được biết để tạo điều kiện cho bà V cũng như ông Ú hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông Ú vẫn vắng mặt, bà V thì có đơn xin xét xử vắng mặt do vợ chồng sống ly thân đã lâu, nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Nay bà kiên quyết xin Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lý Văn Ú do không còn tình cảm vợ chồng, điều đó cũng chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng ông bà là đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Cẩm V đối với ông Lý Văn Ú là phù hợp.
Về con chung: Lý Viễn L, sinh năm 1996, đã thành niên nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: bà Trần Thị Cẩm V trình bày để vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết; nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: Bà Trần Thị Cẩm V phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Cẩm V.
Bà Trần Thị Cẩm V được ly hôn với ông Lý Văn Ú
[2] Về con chung: Lý Viễn L, sinh năm 1996, đã thành niên nên không xem xét giải quyết.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Cẩm V trình bày tài sản chung tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét; nợ chung không có nên không đề cập.
[4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Cẩm V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004623 ngày 21/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre nên không còn phải nộp thêm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Nhớ |
Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Cẩm Vân. Bà Trần Thị Cẩm Vân được ly hôn với ông Lý Văn Út Về con chung: Lý Viễn Linh, sinh năm 1996, đã thành niên nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Cẩm Vân trình bày tài sản chung tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét; nợ chung không có nên không đề cập.