|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 62/2024/HS-ST Ngày 28 - 5 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định
Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Đức Thành và ông Vũ Khắc Hoàn
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 14/5/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn C, tên gọi khác: không có; sinh ngày 10 tháng 4 năm 1985 tại huyện M, tỉnh Điện Biên. Nơi thường trú: bản Co Hắm, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn Ú và bà Lường Thị I; có vợ là Lường Thị T; có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 19/12/2023, tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023, tạm giam từ ngày 28/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn C: Luật sư Đào Bá Y, thuộc Văn phòng Luật sư Ánh Anh - Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- Anh Lù Văn L, sinh năm 1999; địa chỉ: bản P, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Quàng Văn D, sinh năm 2003; địa chỉ: đội E, thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang, vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Tòng Văn P, sinh năm 1988; địa chỉ: bản P, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, tại khu vực lán trại nhà ở công nhân xây dựng nhà máy C1, khu công nghiệp S, thuộc thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Công an thị xã Q tiến hành kiểm tra hành chính, qua kiểm tra test nhanh nước tiểu phát hiện Lường Văn C, Lù Văn L, Quàng Văn D và Tòng Văn P đều dương tính với ma túy, loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Lù Văn L, Quàng Văn D, Tòng Văn P khai nhận cả ba đã cùng nhau mua ma túy 02 lần của Lường Văn C vào lúc 05 giờ và khoảng 11 giờ 10 phút cùng ngày 18/12/2023, đều tại giường ngủ của C trong khu lán trại công nhân khu công nghiệp S, để tự sử dụng cho bản thân. Mỗi người mua 01 gói ma túy/01 lần với giá 100.000 đồng, tiền mua ma túy được trừ vào tiền công lao động của từng người. Đến 07 giờ ngày 19/12/2023, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lường Văn C.
Quá trình điều tra, Lường Văn C thừa nhận đã bán ma túy cùng lúc cho Lù Văn L, Quàng Văn D và Tòng Văn P 02 lần như trên. Ngoài ra còn khai: Chựa làm lao động thời vụ thuê cho vợ chồng đối tượng tên K và Y1 (không rõ họ tên đầy đủ, địa chỉ) tại công trường xây dựng nhà máy C1 từ ngày 05/12/2023. Khoảng 05 giờ ngày 17/12/2023, K đưa cho C 03 gói giấy, bên trong chứa chất bột màu trắng nói là ma túy để C bán lại cho công nhân thời vụ và trừ vào tiền công lao động. Sau khi nhận ma túy, C chia nhỏ thành 08 gói, C sử dụng hết 02 gói, 06 gói còn lại bán cho L, D, P và được C ghi vào 01 quyển sổ A4, bìa màu vàng để sau này đưa cho K trừ vào tiền công lao động.
Kết luận giám định số 1831/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Tìm thấy M là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine (Diacetymorphine) trong mẫu nước tiểu của Lường Văn C, Lù Văn L, Quàng Văn D, Tòng Văn P.
Bản cáo trạng số 429/CT-VKSQY ngày 24/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố Lường Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị:
Căn cứ: điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lường Văn C từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2023. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo;
Tại phiên tòa bị cáo Lường Văn C khai nhận: Chựa làm lao động thời vụ thuê cho vợ chồng đối tượng tên K và Y1 (không rõ họ tên đầy đủ, địa chỉ) tại công trường xây dựng nhà máy C1 từ ngày 05/12/2023. Khoảng 05 giờ ngày 17/12/2023, K đưa cho C 03 gói giấy, bên trong chứa chất bột màu trắng nói là ma túy để C bán lại cho công nhân thời vụ và trừ vào tiền công lao động. Sau khi nhận ma túy, C chia nhỏ thành 08 gói, C sử dụng hết 02 gói, 06 gói còn lại bán cho L, D, P và được C ghi vào 01 quyển sổ A4, bìa màu vàng để sau này đưa cho K trừ vào tiền công lao động, cụ thể:
Khoảng 05 giờ 03 phút và khoảng 11 giờ 10 phút, ngày 18/12/2023, anh Quàng Văn D sang chỗ giường ngủ của C khu nhà ở công nhân đang thi công công trình dự án nhà máy C1 – địa điểm khu công nghiệp S, địa chỉ: thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh có nói chuyện là để cho D (ý là bán cho D) 01 (một) gói ma túy heroine với giá 100.000 đồng để D sử dụng xong đi làm. Sau đó C lấy dưới chiếu C ngủ ra 01 gói ma túy heroine và bán cho D, số tiền mua ma túy trừ vào tiền công lao động của D. Sau khi C bán ma túy cho Dương c đi đâu sử dụng Chựa không rõ. Chựa bán ma túy cho D có anh Lù Văn L và anh Tòng Văn P đều đi cùng chứng kiến và nhìn thấy.
Khoảng 05 giờ 05 phút sáng và khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 18/12/2023, anh Lù Văn L sang chỗ giường ngủ của C khu nhà ở công nhân đang thi công công trình dự án nhà máy C1 – địa điểm khu công nghiệp S, địa chỉ: thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh có nói chuyện là để cho L (ý là bán cho L) 01 (một) gói ma túy heroine với giá 100.000 đồng để L sử dụng xong đi làm. Sau đó C lấy dưới chiếu C ngủ ra 01 gói ma túy heroine và bán cho L, số tiền mua ma túy trừ vào tiền công lao động của L. Sau khi C bán ma túy cho L câm đi đâu sử dụng Chựa không rõ. Chựa bán ma túy cho L có anh Quàng Văn D và anh Tòng Văn P đều đi cùng chúng kiến và nhìn thấy.
Khoảng 05 giờ 08 phút và khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 18/12/2023, anh Tòng Văn P sang chỗ giường ngủ của C khu nhà ở công nhân đang thi công công trình dự án nhà máy C1 – địa điểm khu công nghiệp S, địa chỉ: thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh có nói chuyện là để cho P (ý là bán cho P) 01 (một) gói ma túy heroine với giá 100.000 đồng để P sử dụng xong đi làm. Sau đó C lấy dưới chiếu C ngủ ra 01 gói ma túy heroine và bán cho P, số tiền mua ma túy trừ vào tiền công lao động của P. Sau khi C bán ma túy cho P cầm đi đâu sử dụng Chựa không rõ. Chựa bán ma túy cho P có Quàng Văn D và Lù Văn L đều đi cùng và nhìn thấy.
Tất cả những lần C bán ma túy cho D, L và P, họ đều đi cùng với nhau và C lần lượt bán ma túy cho những người Chựa đã khai ở trên bằng hình thức trừ tiền cho từng người bằng cách ghi vào sổ tay ghi chép của C. Mục đích Chựa ghi sổ ghi chép để thông báo lại cho anh K để trừ tiền công lao động của người mua; lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận: Việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan sai, không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng đã truy tố và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn án phí cho bị cáo.
Người làm chứng: Các anh Lù Văn L, Quàng Văn D và Tòng Văn P, có lời khai trong quá trình điều tra có trong hồ sơ thể hiện phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, phù hợp với nội dung biên bản kiểm tra, kết luận giám định.
Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn C, Luật sư Đào Bá Y - Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với việc Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo Lường Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b, c khoản 2 điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc áp dụng 2 tình tiết định khung tăng nặng theo điểm b “phạm tội hai lần trở lên” và điểm c “mua bán với hai người trở lên” đối với bị cáo Lường Văn C là bất lợi cho bị cáo bởi lẽ: Hành vi phạm tội của bị cáo đã được tổng hợp để áp dụng tình tiết định khung theo điểm b “Phạm tội hai lần trở lên”. Nhưng lại được tổng hợp lần thứ hai với tình tiết định khung theo điểm c “Mua bán với hai người trở lên”. Mặc dù về vấn đề này chưa có hướng dẫn cụ thể của các cơ quan tiến hành tố tụng. Nhưng theo nguyên tắc của Bộ luật Hình sự là áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo vì vậy Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chỉ áp dụng một tình tiết định khung tăng nặng đối với bị cáo Lường Văn C. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, tiền án, tiền sự chưa có; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn C đã khai nhận hành vi của mình, thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Lường Văn C là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn C mức án 7 năm tù giam.
Theo quy định của pháp luật bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đề nghị hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy 02 lần độc lập vào khoảng 05 giờ ngày 18/12/2023 và 11 giờ 10 phút ngày 18/12/2023, đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS và trong mỗi lần bị cáo đã bán ma túy cho 03 người là Lù Văn L, Quàng Văn D và Tòng Văn P đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 BLHS nên hành vi của bị cáo C thỏa mãn cả hai tình tiết định khung là “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên”. Ngoài ra, bị cáo là người trưởng thành, có trình độ học vấn 9/12, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Vì vậy, không chấp nhận đề nghị của người bào chữa đối với việc: không áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251 BLHS; áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS và mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo. Đối với việc miễn án phí, bị cáo Lường Văn C là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa xin được miễn án phí nên đồng ý với đề nghị của người bào chữa miễn án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc định tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lường Văn C thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo Lường Văn C tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai xác nhận của những người làm chứng và nội dung biên bản kiểm tra, kết luận giám định, vật chứng thu giữ của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 05 giờ đến 11 giờ 15 phút ngày 18/12/2023, tại khu công nghiệp S thuộc thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Lường Văn C đã 02 lần bán ma túy mỗi lần bán cùng lúc cho 3 người là Lù Văn L, Quàng Văn D và Tòng Văn P, tổng số 06 gói ma túy với giá 100.000 đồng/gói, sẽ được trừ vào tiền công lao động mỗi người. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đối với quan điểm của Người bào chữa cho bị cáo, thấy: Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện; bị cáo đã bán ma túy với 02 lần riêng biệt và mỗi lần bán ma túy cho 3 người là Lù Văn L, Quàng Văn D và Tòng Văn P, tổng số 06 gói ma túy với giá 100.000 đồng/gói, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, không chấp nhận đề nghị của Người bào chữa về việc: không áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo. Đối với đề nghị miễn án phí cho bị cáo: Xét thấy bị cáo Lường Văn C là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa có yêu cầu xin được miễn án phí; vì vậy, chấp nhận đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
[3] Về hình phạt:
[3.1]Hình phạt chính:
Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt nghiêm, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để rèn luyện, giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt.
[3.2] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nghiện ma túy, lao động tự do không có công việc và thu nhập ổn định, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 quyển sổ A4, bìa màu vàng được chuyển cùng hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, là tài liệu chứng cứ cần lưu cùng hồ sơ vụ án.
[5] Về các tình tiết khác trong vụ án:
Đối với Lù Văn L, Quàng Văn D và Tòng Văn P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thị xã Q đã ra Quyết định xử phạt hành chính.
Đối với đối tượng tên K đưa ma túy cho C để bán, quá trình điều tra không xác định được lý lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
[6] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lường Văn C là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: bị cáo Lường Văn C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lường Văn C 07 (Bẩy) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 19/12/2023.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lường Văn C được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo Lường Văn C có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phúc Định |
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn Chựa phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
