Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 62/2024/DS-PT
Ngày 28/5/2024
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công
  • Các Thẩm phán: Ông Giáp Bá Dự
  • Ông Trần Văn Thưởng
  • Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Trà My, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Ông Hoàng Văn Hạnh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 29/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 về "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 75/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Võ Thị Thu N; địa chỉ: thôn A H, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
  2. Người đại diện ủy quyền: bà Phạm Thị Ngọc Y; địa chỉ: tổ G, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai (theo Văn bản ủy quyền ngày 05 tháng 10 năm 2023). Có mặt.

  3. Bị đơn: bà Lê Thị Mỹ P; địa chỉ: C N, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  4. Người kháng cáo: bị đơn bà Lê Thị Mỹ P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Đại diện nguyên đơn trình bày: Bà Võ Thị Thu N và bà Lê Thị Mỹ P có mối quan hệ quen biết. Trong các ngày 02-6-2021 (âm lịch) và ngày 02-02-2022 (âm lịch) bà N cho bà P vay tổng số tiền là 1.915.000.000đ, việc vay mượn tiền qua các lần đều lập thành văn bản, cụ thể:

Lần 1, vào ngày 02-6-2021 (âm lịch) cho vay 1.700.000.000đ, thời hạn vay không xác định lãi suất do các bên thỏa thuận. Trong nội dung văn bản vay không thể hiện nhưng hai bên thống nhất lãi suất tính là 3%/tháng. Để làm tin bà P giao cho bà N Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 275535 do UBND thành phố P, tỉnh Gia Lai cấp ngày 10-8-2018 và hẹn sẽ trả lại số tiền trên cho nguyên đơn trong, thời gian sớm nhất để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về. Trong thời gian vay số tiền này bị đơn đã trả lãi cho nguyên đơn được 02 lần qua tài khoản cụ thể: Ngày 16-11-2021 chuyển số tiền 15.000.000 đồng; ngày 16-12-2021 chuyển số tiền 10.000.000đồng. Tổng hai lần trả lãi được 25.000.000đồng.

Lần 2, vào ngày 02-02-2022 (âm lịch) cho bà P vay số tiền là 215.000.000đồng. Trong nội dung giấy vay tiền không thể hiện về thời gian trả tiền gốc và mức lãi suất nhưng các bên thống nhất mức lãi suất là 3%/tháng. Vì nguyên đơn đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có giá trị lớn hơn so với tài sản bị đơn mượn. Do đó, nguyên đơn tin tưởng cho bị đơn vay, bị đơn hứa sẽ trả lại số tiền trên trong thời gian sớm nhất cho nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không trả được sẽ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn để cấn trừ nợ.

Tuy nhiên, thời gian sau đó nguyên đơn đã yêu cầu bị đơn trả lại toàn bộ số tiền đã vay nhưng bị đơn không thực hiện và cố tình trốn tránh.

Tại đơn khởi kiện nguyên đơn có yêu cầu bị đơn phải trả lãi phát sinh với mức lãi suất là 20%/năm. Nhưng tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về mức lãi suất, yêu cầu bị đơn phải chịu tiền lãi phát sinh là 10%/năm. Cụ thể yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị Mỹ P phải trả cho nguyên đơn số tiền 1.915.000.000 đồng là số nợ gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử là 465.959.723đồng. Trong đó, thời gian yêu cầu tính lãi được tính như sau:

Đối với giấy vay tiền ngày 02-6-2021, số tiền vay là 1.700.000.000đ. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi tính từ ngày 02-6-2021 (âm lịch) đến ngày 01-2-2022 (âm lịch) tức ngày 03-3-2022 dương lịch với mức lãi suất là 10%/năm.

Đối với giấy vay ngày 02-02-2022 âm lịch là giấy vay thêm số tiền 215.000.000đ. Do đó, nguyên đơn yêu cầu tính lãi với tổng số tiền vay là 1.915.000.000đ, tính từ ngày 02-02-2022 âm lịch (tức ngày 04-3-2022 dương lịch) đến ngày xét xử là ngày 01.3.2024 với mức lãi suất là 10%/năm.

* Bị đơn bà Lê Thị Mỹ P trình bày: bà thừa nhận có nợ và ký vào các giấy vay nợ như nguyên đơn khởi kiện. Tuy nhiên, hiện tại bà chỉ còn nợ nguyên đơn số tiền là 1.400.000.000₫ chứ không phải số tiền nợ gốc như nguyên đơn khởi kiện.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DSST ngày 01 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 274, 275, 463, 466, 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thu N.

Buộc bà Lê Thị Mỹ P phải trả cho bà Võ Thị Thu N số tiền 2.380.959.723đ, trong đó tiền nợ gốc là 1.915.000.000đ và tiền nợ lãi là 465.959.723₫.

Bà Võ Thị Thu N trả lại 01 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 275535 do UBND thành phố P cấp ngày 10 tháng 8 năm 2018 tại thửa đất số 144; tờ bản đồ số 15; địa chỉ: Tổ B, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai cho bà Lê Thị Mỹ P.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyết định nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

* Ngày 15 tháng 3 năm 2024, bị đơn bà Lê Thị Mỹ P có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không buộc bà phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ lãi là 465.959.723₫.

* Diễn biến tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Phát biểu quan điểm, đại diện Viện kiểm sát cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phiên tòa Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến trước khi nghị án. Về nội dung, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Hợp đồng vay ngày 02/6/2021 (âm lịch), tức ngày 11/7/2021 và ngày 02/02/2022 (âm lịch), tức ngày 04/3/2022 giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự. Nguyên đơn đã yêu cầu bị đơn trả nợ trong thời gian hợp lý nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tiền nợ gốc của 02 hợp đồng vay nói trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo của bị đơn về việc không đồng ý trả tiền lãi của 02 hợp đồng vay, thấy rằng:

[3.1]. Hợp đồng vay ngày 02/6/2021 (âm lịch), tức ngày 11/7/2021 và ngày 02/02/2022 (âm lịch), tức ngày 04/3/2022 là hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải trả lãi 10%/năm đối với mỗi hợp đồng vay cho đến khi trả nợ gốc cho nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

[3.2]. Về tiền lãi của 02 hợp đồng vay mà bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn được xác định: Hợp đồng vay ngày 02/6/2021 (âm lịch) tức ngày 11/7/2021 được tính từ ngày 11/7/2021 đến ngày 03-3-2022 (ngày xét xử sơ thẩm) là 07 tháng 22 ngày: (1.700.000.000₫ x 10%/12 tháng x 7 tháng × 22 ngày) = 109.555.556đ (được trừ đi số tiền lãi đã trả trước đây là 25.000.000đồng); tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 84.555.556đ. Hợp đồng vay ngày 02/02/2022 (âm lịch) tức ngày 04/3/2022 được tính từ ngày 04/3/2022 đến ngày 01-3-2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là 23 tháng 27 ngày: (1.915.000.000₫ x 10%/12 tháng x 23 tháng x 27 ngày) = 381.404.167đ. Tổng cộng tiền lãi phải trả là 465.959.723₫.

[4]. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 2.380.959.723đ, trong đó tiền nợ gốc 1.915.000.000₫ và tiền nợ lãi 465.959.723đ là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Bị đơn kháng cáo là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

[5]. Về án phí: Do cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Mỹ P
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
  3. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 274, 275, 463, 466, 469 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thu N

Buộc bà Lê Thị Mỹ P phải trả cho bà Võ Thị Thu N số tiền 2.380.959.723đ (hai tỷ ba trăm tám mươi triệu, chín trăm năm mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi ba đồng), trong đó tiền nợ gốc là 1.915.000.000 đồng và tiền nợ lãi là 465.959.723 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Bà Võ Thị Thu N trả lại 01 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 275535 do UBND thành phố P cấp ngày 10 tháng 8 năm 2018 tại thửa đất số 144; tờ bản đồ số 15; địa chỉ: Tổ B, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai cho bà Lê Thị Mỹ P.

Trường hợp bà Võ Thị Thu N không thực hiện, bà Lê Thị Mỹ P được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền yêu cầu thực hiện thủ tục theo quy định để được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Lê Thị Mỹ P phải chịu số tiền là 79.619.194 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Võ Thị Thu N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà Võ Thị Thu N số tiền 43.364.040 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây tại Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0001457 ngày 13-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
  2. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Lê Thị Mỹ P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001397 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; bà P đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Gia Lai;
  • -TAND thành phố Pleiku;
  • -Chi cục THADS thành phố Pleiku;
  • -Đương sự;
  • - Lưu Tòa, lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/DS-PT ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 62/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger