TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-7-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Hoa Lư.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Duy Oanh
Ông Nguyễn Phát Triển
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Phát Đạt là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2024/TLST-HNGĐ, ngày 24/6/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 361/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 16/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1988 (Có mặt).
- Bị đơn: Nguyễn Tấn Đ, sinh năm: 1979 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ: H, ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 27/5/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng T trình bày:
* Về hôn nhân:
Chị T và anh Đ tìm hiểu đi đến hôn nhân, tổ chức đám cưới năm 2007, có đăng ký kết hôn ngày 03/9/2013, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2018 thì phát sinh nhiều mẫu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan diểm sống, vợ chồng càng ngày không hợp nhau, anh Đ không lo lắng chăm sóc cho vợ con, nạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai và đã xa nhau từ năm 2019, sau đó thì hàn gắn lại sống nhưng anh Đ vẫn không thay đổi, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trậm trọng vì thế mà chị T bỏ về cha mẹ ruột sống từ năm 2019 đến nay. Trong thời gian chị T về mẹ ruột sống anh Đ có tới lui nhưng vợ chồng vẫn không thể nào có tiếng nói chung, càng ngày xa cách, sau khi sinh bé nhỏ ra anh Đ không có đến thăm chị T. Nay chị T xác định không còn tình cảm với anh Đ nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 18/8/2008, Nguyễn Tấn Q, sinh ngày 05/01/2013, Nguyễn Tấn N, sinh ngày 18/7/2023. Hiện chị T đang nuôi cháu N còn P và Q anh đang sống với anh Đ. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi Tấn N, và đồng ý giao hai con chung tên Tấn P, Tấn Q cho anh Đ nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
Về nợ khi ly hôn: không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn Nguyễn Tấn Đ: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt lần 2 tại phiên tòa không có ly do và không có ý kiến phản bác yêu cầu của nguyên đơn.
Tại tờ tường trình ngày 25/6/2024 Nguyễn Tấn P, Nguyễn Tấn Q có nguyện vọng được sống với anh Đ, không yêu cầu chị T cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyễn Thị Hồng T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa Nguyễn Thị Hồng T và Nguyễn Tấn Đ đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”; thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn Nguyễn Tấn Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp và phiên tòa không có lý do. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Nguyễn Thị Hồng T và Nguyễn Tấn Đ tổ chức đám cưới năm 2007 và đăng ký kết hôn ngày 03/9/2013, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, hơn nữa anh Đ không lo lắng chăm sóc gì cho vợ, không còn tiếng nói chung, nạnh ai nấy sống, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài từ năm 2019 đến nay, tuy nhiên trong quá trình đó cả hai đã có cho nhau cơ hội để hàn gắn gia đình nhưng tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Vì thế chị T và anh Đ xa nhau từ năm 2023 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Mặc dù, Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng chị T vẫn cương quyết ly hôn với anh Đ. Đối với anh Đ từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa anh Đ vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản bác gì đối với yêu cầu của chị T. Điều đó cho thấy anh Đ đã từ bỏ cuộc hôn nhân này với chị T, không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị T và anh Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, cho nên việc chị T yêu cầu ly hôn là thỏa mãn các điều kiện theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ.
[3] Về con chung: Có hai 03 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 18/8/2008, Nguyễn Tấn Q, sinh ngày 05/01/2013, Nguyễn Tấn N, sinh ngày 18/7/2023, P và Q đang sống với anh Đ còn N đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là Tấn N và giao 02 con P, Q cho anh Đ tiếp tiếp tục nuôi dưỡng. Yêu cầu này của chị T là có cơ sở bởi lẽ, điều này phù hợp với nguyện vọng của P và Q được sống với anh Đ và từ khi xa nhau anh Đ là người trực tiếp nuôi hai con chu đáo, đảm bảo về thể chất lẫn tinh thần cho hai cháu nên cần tiếp tục giao P, Q cho anh Đ được tiếp tục nuôi dưỡng, còn Tấn N còn nhỏ đang sống với chị T để ổn định cho bé N cần giao cháu N cho chị T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng chị T không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng và anh Đ cũng không ý kiến yêu cầu chị T cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về nợ khi ly hôn: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Anh Nguyễn Tấn Đ từ khi thụ lý vụ án đến nay mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định trong đó có việc thông báo cho anh Đ biết việc tình trạng tài sản chung và nợ khi ly hôn nhưng anh Đ cũng không có ý kiến hay phản bác yêu cầu của chị T về vấn đề tài sản chung và nợ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: cho Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn với Nguyễn Tấn Đ
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 18/8/2008, Nguyễn Tấn Q, sinh ngày 05/01/2013 cho anh Nguyễn Tấn Đ được tiếp tục nuôi dưỡng. Giao Nguyễn Tấn N, sinh ngày 18/7/2023 cho chị Nguyễn Thị Hồng T được tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm: Nguyễn Thị Hồng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng. Được khấu trừ 300.000 đồng mà Nguyễn Thị Hồng T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0001730, ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (Nguyễn Thị Hồng T đã nộp xong).
Chị T và anh Đ cùng các thành viên gia đình không được cản trở nhau trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| 1/ 2/ | Tô Thị Hoa L |
Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
