Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 62/2024/DS - PT

Ngày 26 tháng 8 năm 2024

V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản.

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Khắc Chiên;

Ông Phạm Văn Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 40/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2024/DS - ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 25/2024/QĐXX - PT ngày 04 tháng 7 năm 2024, các Quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Đức S, sinh năm 1952; ĐKHKTT: Khu B, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Đinh Thị H – Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.

Bị đơn: Ông Phạm Đức M, sinh năm 1958; Địa chỉ: Khu B, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Người được bị đơn ủy quyền: Ông Trịnh Khánh T, sinh năm 1972; Địa chỉ: A Ngách H, đường L, quận Đ, thành phố Hà Nội

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Ông Phạm Văn D, sinh năm 1949; địa chỉ: Phố L, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

2. Ông Phạm Đức M1, sinh năm 1962; địa chỉ: Khu B, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

3. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1956; địa chỉ: Khu G, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

4. Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1960; địa chỉ: Khu E, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

5. Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: Khu G, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

6. Bà Phạm Thị Đ1, sinh năm 1967; địa chỉ: Khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

7. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1959; địa chỉ: Khu 2, xã Bản Nguyên, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

8. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1950; địa chỉ: Phố L, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

9. Chị Lê Thị L2, sinh năm 1981; địa chỉ: Khu B, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

( Ông S, ông D, ông M1, bà K, ông T có mặt. Bà H, bà Lê Thị L2, bà Đ có đơn xét xử vắng mặt. Bà Phạm Thị L, bà T1, bà L1, bà Đ1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn ông Phạm Đức S trình bày: Bố mẹ ông là cụ Phạm Văn T2 (chết năm 2008) và cụ Nguyễn Thị L3 (chết năm 2014). Khi còn sống, bố mẹ ông có tài sản là thửa đất số 266, tờ bản đồ số 09, diện tích 967m² (trong đó có 200m² đất ở và 767m² đất vườn), địa chỉ tại: Xóm B, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/4/2001 đứng tên hộ ông Phạm Văn T2. Trên đất có 01 ngôi nhà cấp bốn 05 gian (hiện nay không còn). Bố mẹ ông khi còn sống sinh được 08 người con bao gồm: Ông Phạm Văn D, sinh năm 1949; bà Phạm Thị L, sinh năm 1956; ông Phạm Đức S, sinh năm 1952; ông Phạm Đức M, sinh năm 1958; bà Phạm Thị L1, sinh năm 1960; ông Phạm Đức M1, sinh năm 1962; bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1965;bà Phạm Thị Đ1, sinh năm 1967. Ngoài ra bố mẹ ông không có người con đẻ hay con nuôi nào khác. Bố mẹ đẻ của cụ Phạm Văn T2 là cụ Phạm Văn K1 (chết năm 1976) và cụ Đặng Thị Â (chết năm 1988). Bố mẹ đẻ của cụ Nguyễn Thị L3 là cụ Nguyễn Bá T3 (chết năm 1950) và cụ Đặng Thị P (chết năm 1956). Các cụ khi còn sống đều sinh sống tại xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Bố ông chết có để lại di chúc, mẹ ông khi còn sống mẹ ông đã cắt cho ông 174m² đất nằm trong diện tích đất 967m² để làm nhà, đã được anh em đồng ý, ông đã làm nhà nhưng do giáp danh ngôi nhà 5 gian của bố mẹ ông, nên năm 2011 mẹ ông đến Ủy ban nhân dân xã B lập di chúc cho ông 240m² (trong đó có 60m² đất ở, còn lại là đất vườn) và căn dặn sau này làm lại nhà 5 gian của bố mẹ thì chuyển thêm cho ông 66m² để ông có đủ 240m² theo di chúc, nhưng năm 2020 ông D (anh trai) phá nhà cũ của bố mẹ ông làm lại nhà khác. Trước khi ông D làm nhà ông có báo chính quyền địa phương can thiệp nhưng ông D vẫn làm và xây tường rào cao che chắn nhà ông. Ngày 27/10/2020 ông đã khởi kiện lên Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao đề nghị chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật diện tích đất 967m² của bố mẹ ông. Ngày 14/11/2022 Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao đã xét xử và chia thừa kế cho anh em ông. Sau đó ông D có đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Tại phiên tòa phúc thẩm bà L1 đã có đơn trả lại 121,6m² đất bà đã nhận ở phiên tòa sơ thẩm. Sau khi bà L1 thay đổi ý kiến, ngày 25/5/2023 ông đã rút đơn khởi kiện, ông D đã rút đơn kháng cáo. Đến nay anh em ông vẫn không tự giải quyết được. Nay ông đề nghị Tòa án chia thừa kế theo quy định của pháp luật, ông xin nhận bằng hiện vật và không đề nghị đo đạc lại đất nữa vì mới đo. Ông không có công sức quản lý, tôn tạo di sản thừa kế của cụ T2, cụ L3 để lại. Tại phiên toà ông S thừa nhận chỉ có ông D là người có công trông coi, quản lý di sản thừa kế của cụ T2, cụ L3 để lại và ông tự nguyện chịu chi phí tố tụng cho bà K. Tài sản trên đất không có nên ông không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Đức M và người được ủy quyền trình bày: Bố mẹ ông là cụ Phạm Văn T2 (chết năm 2008) và cụ Nguyễn Thị L3 (chết năm 2014). Khi còn sống, bố mẹ ông có tài sản là thửa đất số 266, tờ bản đồ số 09, diện tích 967m² (trong đó có 200m² đất ở và 767m² đất vườn), địa chỉ tại: Xóm B, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Được Ủy ban nhân dân huyện huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/4/2001 đứng tên hộ ông Phạm Văn T2. Trên đất có 01 ngôi nhà cấp bốn 05 gian (hiện nay không còn). Bố mẹ ông khi còn sống sinh được 08 người con bao gồm: Ông Phạm Văn D, sinh năm 1949; bà Phạm Thị L, sinh năm 1956; ông Phạm Đức S, sinh năm 1952; ông Phạm Đức M, sinh năm 1958; bà Phạm Thị L1, sinh năm 1960; ông Phạm Đức M1, sinh năm 1962; bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1965; bà Phạm Thị Đ1, sinh năm 1967.Ngoài ra bố mẹ ông không có người con đẻ hay con nuôi nào khác. Bố mẹ đẻ của cụ Phạm Văn T2 là cụ Phạm Văn K1 (chết năm 1976) và cụ Đặng Thị Â (chết năm 1988). Bố mẹ đẻ của cụ Nguyễn Thị L3 là cụ Nguyễn Bá T3 (chết năm 1950) và cụ Đặng Thị P (chết năm 1956). Các cụ khi còn sống đều sinh sống tại xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Trước khi bố ông là cụ Phạm Văn T2 chết có để lại 01 di chúc viết tay và 01 giấy ủy quyền giao tài sản cho anh trai cả là ông Phạm Văn D, trước sự chứng kiến của mẹ ông, 02 ông chú ruột là ông Phạm Bá C, ông Phạm Văn H1 cùng với 07 người con (07 người này đều ký tên làm chứng trong di chúc của bố ông viết), không có ông Phạm Đức S. Trong nội dung di chúc, bố ông ghi rõ đã cho ông Phạm Đức S 450m² đất và cho ông Phạm Đức M1 355m² đất. Số đất còn lại bố ông ủy quyền cho ông D phải có trách nhiệm cắt một phần đất cho ông.

Năm 1999, ông S đã bán phần diện tích đất mà bố ông đã cho từ trước đó cho ông bà Lợi Đ2. Năm 2008, sau khi bố ông chết, ông S có xin các anh chị em cho thêm một phần đất để làm nhà ở và đã được các anh chị em trong gia đình đồng ý, cắt cho ông S một phần diện tích đất 180m² trong số diện tích đất 967m² của bố mẹ ông (Ông S đã làm nhà và ở từ đó đến nay).

Nay ông S khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo di chúc và chia thừa kế đối với phần di sản của mẹ ông để lại theo quy định của pháp luật thì ông M không đồng ý. Ngoài ra, cụ T2, cụ L3 không để lại tài sản gì khác ngoài quyền sử dụng đất 967m². Tài sản trên đất không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Ông M không có công sức quản lý, tôn tạo di sản thừa kế của cụ T2, cụ L3 để lại mà chỉ có ông D là con trưởng san lấp nền và quản lý, trông coi.

Ông Phạm Đức M đề nghị nếu phải chia thừa kế thì phần của ông được hưởng ông cho ông D sử dụng để thờ cúng.

Ông Phạm Văn D trình bày: Bố mẹ ông là cụ Phạm Văn T2 (chết năm 2008) và cụ Phạm Thị L4 (chết năm 2014). Trước khi chết, bố mẹ ông có tài sản là thửa đất số 266, tờ bản đồ số 09, diện tích 967m² (trong đó có 200m² đất ở và 767m² đất vườn), địa chỉ tại: Xóm B, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/4/2001 đứng tên cụ Phạm Văn T2 và cụ Nguyễn Thị L3. Trên đất có 01 ngôi nhà cấp bốn 05 gian đã cũ. Về quan hệ huyết thống như ông S trình bày là đúng. Ngoài ra bố mẹ ông không có người con nào khác, cũng không nhận ai là con nuôi.

Trước khi bố ông chết có để lại 01 di chúc viết tay và 01 giấy ủy quyền giao tài sản cho anh trai cả là ông, trước sự chứng kiến của mẹ ông, 02 ông chú ruột là ông Phạm Bá C, ông Phạm Văn H1 cùng với 07 người con (07 người này đều ký tên làm chứng trong di chúc của bố ông), không có ông Phạm Đức S. Trong nội dung di chúc, bố ông ghi rõ đã cho ông Phạm Đức S 450m² đất và cho ông Phạm Đức M1 355m² đất. Số đất còn lại bố ông ủy quyền cho ông phải có trách nhiệm cắt một phần đất cho ông Phạm Đức M. Sau khi bố ông mất, ông S có xin các anh chị em cho thêm một phần đất để làm nhà ở và đã được các anh chị em trong gia đình đồng ý, cắt một phần diện tích đất 180m² trong số diện tích đất 967m² của bố mẹ ông cho ông S (ông S đã làm nhà và ở từ đó đến nay). Nay ông S khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật thì ông không đồng ý vì trước khi chết bố ông đã cho ông S một phần đất rồi và đã để lại di chúc ủy quyền giao tài sản cho ông để cắt đất chia cho các anh em. Nay ông nhất trí cho ông M phần diện tích đất 130m²(trong đó đất ở 50m² và đất vườn 80m²) theo di chúc của bố ông để lại và ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết công sức quản lý, tôn tạo đất là di sản thừa kế bố mẹ ông để lại vì ông có công sức đổ đất, san nền và trông nom, quản lý đất từ khi bố mẹ ông chết đến nay.

Ngoài ra, cụ T2, cụ L3 không để lại tài sản gì khác ngoài quyền sử dụng đất 967 m². Tài sản trên đất không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông D chỉ đề nghị được thanh toán công trông nom, quản lý tài sản. Còn công sức đổ đất, san nền ông không đề nghị. Ông D không có ý kiến gì về bản di chúc của cụ L3 để lại. Về chi phí tố tụng và án phí ông D tự nguyện chịu cho những người được hưởng thừa kế nhường lại cho ông quản lý, sử dụng.

Ông Phạm Đức M1 trình bày: Về họ tên bố mẹ ông, thời gian bố mẹ ông mất, tài sản của bố mẹ ông để lại và các người con của bố mẹ ông như ông S trình bày là đúng. Trước khi bố ông chết có để lại 01 di chúc viết tay và 01 giấy ủy quyền giao tài sản cho anh trai cả là ông Phạm Văn D, trước sự chứng kiến của mẹ ông, 02 ông chú ruột là ông Phạm Bá C, ông Phạm Văn H1 cùng với 07 người con (07 người này đều ký tên làm chứng trong di chúc của bố ông), không có ông Phạm Đức S. Trong nội dung di chúc, bố ông ghi rõ đã cho ông Phạm Đức S 450m² đất và cho ông Phạm Đức M1 355m² đất. Số đất còn lại bố ông ủy quyền cho ông D phải có trách nhiệm cắt một phần đất cho ông Phạm Đức M. Năm 1999, ông S đã bán phần diện tích đất mà bố ông đã cho từ trước đó cho ông bà Lợi Đ2. Năm 2008, sau khi bố ông mất, ông S có xin các anh chị em cho thêm một phần đất để làm nhà ở và đã được các anh chị em trong gia đình đồng ý, cắt một phần diện tích đất 180m² trong số diện tích đất 967m² của bố mẹ ông cho ông S (ông S đã làm nhà và ở từ đó đến nay).

Ngoài ra, cụ T2, cụ L3 không để lại tài sản gì khác ngoài quyền sử dụng đất 967m². Tài sản trên đất không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Ông không có công sức quản lý, tôn tạo di sản thừa kế của cụ T2, cụ L3 để lại mà chỉ có ông D có công quản lý, trông coi.

Nay ông S khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật thì ông không đồng ý vì trước khi chết bố ông đã cho ông S một phần đất rồi và đã để lại di chúc ủy quyền giao tài sản cho ông D để cắt đất chia cho các anh em. Nếu được chia thừa kế theo quy định của pháp luật, thì phần của ông được hưởng ông cho toàn bộ ông D quản lý, sử dụng.

Bà Phạm Thị Đ, Phạm Thị L thống nhất và có lời khai: Bố mẹ bà Đ, bà L là cụ Phạm Văn T2 và cụ Nguyễn Thị L3. Bố mẹ bà sinh được 08 người con bao gồm: ông Phạm Văn D, sinh năm 1949; bà Phạm Thị L, sinh năm 1956; ông Phạm Đức S, sinh năm 1952; ông Phạm Đức M, sinh năm 1958; bà Phạm Thị L1, sinh năm 1960; ông Phạm Đức M1, sinh năm 1962; bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1965; bà Phạm Thị Đ1, sinh năm 1967. Cụ Phạm Văn T2 (chết năm 2008) và cụ Nguyễn Thị L3 (chết năm 2014).

Khi còn sống, bố mẹ bà có tài sản là thửa đất số 266, tờ bản đồ số 09, diện tích 967m² (trong đó có 200m² đất ở và 767m² đất vườn), địa chỉ tại: Xóm B, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/4/2001.

Năm 2008, cụ T2 chết thì một mình mẹ bà sinh sống và quản lý thửa đất. Cuối năm 2008 mẹ bà có họp gia đình và nói cho ông S một phần diện tích đất (140m²) trong thửa đất. Khi mẹ bà và các anh chị em đồng ý cho ông S thì ông S đã xây nhà hai tầng trên phần diện tích đất được cho (và đã sử dụng từ đó cho đến nay).

Bà Đ, bà L xác định bản di chúc ông S cung cấp cho Tòa án là bản di chúc của cụ L3 lập ngày 21/12/2011 và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ chứng thực đã được Tòa án giám định là đúng. Bố mẹ bà không có tài sản gì khác ngoài diện tích đất 967m², tài sản trên đất không có, không đề nghị giải quyết. Ngoài ra các cụ không có tài sản gì khác. Chỉ có ông Phạm Văn D có công tôn tạo, quản lý. Còn các anh chị khác không có công sức đóng góp gì.

Nay ông S khởi kiện yêu cầu chia thừa kế thì bà Đ, bà L có quan điểm: Phần đất đã cho ông S là của ông S, diện tích đất còn lại thì chia thừa kế theo pháp luật. Phần của bà Đ, bà L được hưởng, hai bà xin nhận bằng quyền sử dụng đất.

Bà Đ, bà L đề nghị được vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, phiên hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án.

Bà Phạm Thị L1, Phạm Thị Đ1 thống nhất và có lời khai:Bố mẹ các bà là cụ Phạm Văn T2 (chết năm 2008) và cụ Nguyễn Thị L3 (chết năm 2014). Bố mẹ bà sinh được 08 người con bao gồm: ông Phạm Văn D, sinh năm 1949; bà Phạm Thị L, sinh năm 1956; ông Phạm Đức S, sinh năm 1952; ông Phạm Đức M, sinh năm 1958; bà Phạm Thị L1, sinh năm 1960; ông Phạm Đức M1, sinh năm 1962; bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1965; bà Phạm Thị Đ1, sinh năm 1967. Ngoài ra bố mẹ bà không có người con đẻ hay con nuôi nào khác.

Khi còn sống, bố mẹ bà có tài sản là thửa đất số 266, tờ bản đồ số 09, diện tích 967m² (trong đó có 200m² đất ở và 767m² đất vườn), địa chỉ tại: Xóm B, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/4/2001 đứng tên hộ ông Phạm Văn T2. Trên đất có 01 ngôi nhà cấp bốn 05 gian (hiện nay không còn).

Năm 2008, bố bà chết có để lại di chúc cho ông Phạm Văn D, mẹ bà chết có để lại di chúc. Ngoài ra mẹ các bà có để lại di chúc cho ông S như thế nào thì hai bà không nắm rõ. Bố mẹ đẻ của cụ T2, cụ L3 đều đã chết từ lâu.

Nay ông S khởi kiện yêu cầu chia thừa kế thì quan điểm của bà L1, bà Đ1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và phần của bà L1, bà Đ1 được hưởng bao nhiêu thì các bà không lấy giao toàn bộ cho ông Phạm Văn D quản lý sử dụng. Ngoài ra cụ T2, cụ L3 không có tài sản gì khác, trên đất cụ T2, cụ L3 để lại không có tài sản gì nên các bà không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì lý do sức khỏe nên bà L1, bà Đ1 đề nghị được giải quyết vắng mặt các bà.

Bà Nguyễn Thị K trình bày: Bà là vợ ông Phạm Đức S, sinh năm 1952, thường trú tại khu B, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Bố chồng bà là cụ Phạm Văn T2 (chết năm 2008) và cụ Nguyễn Thị L3 (chết năm 2014). Bố mẹ chồng bà sinh được 8 người con 4 trai, 4 gái, khi còn sống, bố mẹ ông S có mảnh đất thổ cư 967m² (trong đó có 200m² đất ở và 767m² đất vườn) và ngôi nhà cấp bốn 5 gian được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/4/2001. Mẹ chồng bà có lập di chúc cho vợ chồng bà 240m² (trong đó có 60 m² đất ở) để làm nhà ở trong khuôn viên của mảnh đất 967m² của bố mẹ bà. Sau khi bố mẹ bà chết, anh em bà không thống nhất được ý kiến sinh ra tranh chấp. Năm 2020 ông Phạm Văn D ở thị xã P về quê phá nhà cũ của cụ T2, cụ L3 để lại và xây nhà mới chỉ để lại cho vợ chồng bà 170m² mặc dù chồng bà đã có đơn trình báo Uỷ ban nhân dân xã và đã được Uỷ ban nhân dân xã giải quyết 3 lần nhưng ông D vẫn làm theo ý mình.Nay ông S khởi kiện yêu cầu chia thừa kế thì quan điểm của bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết chia thừa kế theo pháp luật.

Bà Phạm Thị T1 có lời khai: Bố mẹ chồng bà là cụ Phạm Văn T2 (chết năm 2008) và cụ Nguyễn Thị L3 (chết năm 2014). Khi còn sống, bố mẹ chồng bà có tài sản là thửa đất số 266, tờ bản đồ số 09, diện tích 967m² (trong đó có 200m² đất ở và 767m² đất vườn), địa chỉ tại: Xóm B, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Được UBND huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/4/2001 đứng tên hộ ông Phạm Văn T2. Trên đất có 01 ngôi nhà cấp bốn 05 gian (hiện nay không còn). Bố mẹ chồng có 08 người con bao gồm ông Phạm Văn D và 07 anh chị em:ông Phạm Văn D, sinh năm 1949; bà Phạm Thị L, sinh năm 1956; ông Phạm Đức S, sinh năm 1952; ông Phạm Đức M, sinh năm 1958; bà Phạm Thị L1, sinh năm 1960; ông Phạm Đức M1, sinh năm 1962; bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1965; bà Phạm Thị Đ1, sinh năm 1967.

Năm 2020 do ngôi nhà cấp 4 năm gian xuống cấp không thể ở được nữa nên chồng bà bàn bạc với các anh em trong gia đình thống nhất để vợ chồng bà xây ngôi nhà hiện nay để làm nơi thờ cúng. Nay ông S khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo di chúc và chia thừa kế đối với phần di sản của mẹ ông S để lại theo theo quy định của pháp luật thì quan điểm của bà là đề nghị theo quan điểm của chồng bà là ông Phạm Văn D, do ông D quyết định.

Bà Lê Thị L2 (vợ ông M) có lời khai: Hiện nay bà đang ở nhà xây trên đất của bố mẹ ông M để lại, bà không liên quan gì đến di sản thừa kế bố mẹ ông M để lại.

Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phạm Đức S: Bà Đinh Thị H – Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đức S. Di sản của cụ T2 và cụ L3 để lại là 967m² đất ở tại địa chỉ: Khu B, xã B, Huyện L, tỉnh Phú Thọ, trên đất không có tài sản gì không đề nghị Tòa án quyết. Ngoài ra các cụ không có tài sản gì khác. Đề nghị Toà án chia thừa kế theo di chúc và chia thừa kế theo pháp luật diện tích đất 967m² để đảm bảo quyền lợi cho ông Phạm Đức S.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS- ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ các Điều 656, Điều 658 Bộ luật dân sự 1995; Điều 652, Điều 653, Điều 657, Điều 658 Bộ luật dân sự 2005; Điều 609, Điều 611, Điều 612, Điều 613, 618, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 659, Điều 660; điểm a, khoản 1 Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông Phạm Đức S.

Giao cho ông Phạm Đức S, bà Nguyễn Thị K được quyền sử dụng diện tích đất 174m² (trong đó 60m² đất ở và 114m² đất vườn), theo chỉ giới: 1, 2, 24, 23, 18,19, 20, 21, 22, 1(Vị trí, kích thước, mốc giới có sơ đồ hiện trạng đo vẽ kèm theo).

Giao cho ông Phạm Đức M được quyền sử dụng diện tích đất 130m²(trong đó 50 m² đất ở và 80m² đất vườn),theo chỉ giới: 13, 14, 15, 25, 26, 13. (Vị trí, kích thước, mốc giới có sơ đồ hiện trạng đo vẽ kèm theo).

Giao cho ông Phạm Văn D được quyền sử dụng diện tích đất 663m²(trong đó 90m² đất ở và 573m² đất vườn), theo chỉ giới: 2, 3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,26,25, 15,16,17,18,23,24,2 (Vị trí, kích thước, mốc giới có sơ đồ hiện trạng đo vẽ kèm theo).

Ông Phạm Văn D có trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng ông Phạm Đức S, bà Nguyễn Thị K số tiền là: 46.200.000đ (Bốn mươi sáu triệu, hai trăm nghìn đồng).

Ông Phạm Văn D có trách nhiệm thanh toán cho ông Phạm Đức S, bà Phạm Thị Đ và bà Phạm Thị L mỗi người số tiền là 28.526.000đ (Hai mươi tám triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật ông Phạm Văn D, ông Phạm Đức S, bà Nguyễn Thị K, ông Phạm Đức M2 quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Kháng cáo:

Ngày 22/3/2024 ông Phạm Đức S - Là nguyên đơn có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS- ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo hướng buộc ông D phải trả lại đất cho ông.

Ngày 22/3/2024 ông Phạm Văn D - Là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS- ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử lại tăng phần công sức quản lý di sản cho ông.

Tại phiên toà phúc thẩm: Ông Phạm Đức S và ông Phạm Văn D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp tài liệu chứng cứ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm: Về tố tụng Thẩm phán,Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Đức S và ông Phạm Văn D. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS- ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Đức S và ông Phạm Văn D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên ông S, ông D là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện VKSND tỉnh; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Kháng cáo của ông Phạm Đức S - Là nguyên đơn; ông Phạm Văn D - Là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện trong thời hạn quy định nên đủ điều kiện xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Đức S buộc ông Phạm Văn D trả lại phần đất còn thiếu (theo di chúc và theo thừa kế) cho ông, vì ông D làm nhà trái phép, Hội đồng xét xử xét thấy: Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện di sản thừa kế của cụ T2 và cụ L3 là thửa đất số 266, tờ bản đồ số 09, diện tích 967m² (trong đó có 200m² đất ở và 767m² đất vườn), địa chỉ tại: Khu B, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/4/2001 đứng tên hộ ông Phạm Văn T2. Toà án cấp sơ thẩm xác định:

  • - Di sản thừa kế của cụ T2 và cụ L3 sau khi trừ đi phần công sức quản lý di sản còn: 967-121= 846m² (trong đó có 175m² đất ở và 671m² đất vườn). Vì vậy di sản của cụ T2 và cụ L3 được xác định là: 846 : 2= 423m²/người (Trong đó mỗi người có 87,5m² đất ở và 335,5m² đất vườn).
  • - Đối với di sản cụ T2 được phân chia:
  • + Cụ T2 có di chúc để lại giao toàn bộ di sản của mình cho ông D, tuy nhiên cụ L3 là vợ của cụ T2 và là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Vì vậy, cụ L3 được hưởng 2/3 của 1 suất thừa kế theo pháp luật của cụ T2, cụ thể: 2/3 x (423:9) = 31,3m² trong đó có: 6,5m² đất ở và 24,8 m² đất vườn.
  • + Diện tích của ông D được hưởng thừa kế theo di chúc của cụ T2 là: 423- 31,3= 391,7m² trong đó có 81m² đất ở và 310,7m² đất vườn. Tuy nhiên, ông D phải thực hiện theo di chúc của cụ T2 là giao một phần đất cho ông M. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, ông D đã giao cho ông M thực tế sử dụng 130m² trong đó có 50m² đất ở và 80m² đất vườn, ông M không có đề nghị gì thêm. Vì vậy, xác định diện tích thực tế di sản ông D được hưởng thừa kế từ cụ T2 là: 391,7- 130 = 261,7m² trong đó có 31m² đất ở và 230,7m² đất vườn.
  • - Đối với di sản của cụ L3 được phân chia:
  • + Di sản của cụ L3 được xác định gồm: phần tài sản cụ L3 trong khối tài sản chung với cụ T2 và phần di sản của cụ T2 mà cụ L3 được hưởng bằng: 423m² + 31,3m² = 454,3m² trong đó có 94m² đất ở và 360,3m² đất vườn.
  • + Cụ L3 có di chúc để lại cho ông M được hưởng 260m² trong đó có 60m² đất ở và 180m² đất vườn. Di chúc là hợp pháp nên cần được ưu tiên thực hiện, vì vậy sau khi thực hiện di chúc của cụ L3 thì di sản của cụ L3 còn lại là: 454,3 -240 = 214,3m² trong đó có 34m² đất ở và 180,3m² đất vườn. Phần di sản này được chia theo pháp luật, hàng thừa kế của cụ L3 có 8 người nên mỗi suất thừa kế của cụ L3 bằng: 214,3 : 8 = 26,788m² (trong đó có 4,25 m² đất ở và 22,538 m² đất vườn).
  • + Do ông M, ông M1, bà Đ1, bà L1 không nhận thừa kế và cho ông D. Vậy phần ông D nhận được thừa kế của cụ L3 là: 26,78 x 5= 133,9 m² (Trong đó 21,25 m² đất ở; 112,65 m² đất vườn).
  • + Bà Đ, bà L mỗi người được hưởng 26,788m² (trong đó có 4,25 m² đất ở và 22,538 m² đất vườn). Toà án cấp sơ thẩm cũng nhận định: đối với phần di sản mà bà Đ và bà L được hưởng không đủ diện tích để cấp đất theo Quyết định số 12/2014/QĐ-UBND ngày 10/9/2014 (được sửa đổi bổ sung tại Quyết định 14/2023/QĐ –UBND ngày 13/7/2023) của Ủy ban nhân dân tỉnh P, vì vậy Toà án cấp sơ thẩm đã giao phần di sản của bà Đ và bà L3 được hưởng cho ông D quản lý và buộc ông D thanh toán số tiền tương ứng với phần di sản hai bà được hưởng theo giá trị đất đã được định giá trong hồ sơ vụ án.
  • + Vợ chồng ông S được hưởng 240m² (Trong đó: 60m² đất ở, 180m² đất vườn) theo di chúc và ông S được hưởng thêm 24,28m² (trong đó có 4,25m² đất ở và 20,03m² đất vườn) theo pháp luật. Toà án cấp sơ thẩm xác định: theo biên bản thẩm định thì hiện nay vợ chồng ông S đang sử dụng 174m² (60m² đất ở và 114m² đất vườn); phần đất giáp với nhà ông S thì ông D đang sử dụng đã xây tường rào và nhà ở kiên cố giáp nhà ông S nên chỉ có thể giao cho vợ chồng ông S sử dụng 174m², đối với phần diện tích đất còn thiếu mà vợ chồng ông S được hưởng theo di chúc của cụ L3 và diện tích đất ông S được hưởng khi chia di sản của cụ L3 thì giao cho ông D sử dụng và buộc ông D thanh toán bằng tiền tương ứng với phần di sản vợ chồng ông S được hưởng.
  • + Phần diện tích đất vợ chồng ông S được hưởng theo di chúc của cụ L3 còn thiếu 66m² đất vườn; phần diện tích đất ông S được hưởng theo pháp luật của cụ L3 còn thiếu 26,788m² (trong đó có 4,25m² đất ở và 22,538m² đất vườn). Căn cứ vào thực trạng sử dụng thửa đất số 266, tờ bản đồ số 09 xác định phần đất ông S đang sử dụng tiếp giáp với tường rào và nhà từ đường mà ông D đã xây dựng, nếu mở rộng diện tích đang sử dụng của ông S thì sẽ ảnh hưởng đến kết cấu tài sản của ông D trên đất nên không thực hiện được, đồng thời ông S cũng xây nhà ổn định lâu năm và có tường rào bao quanh. Mặt khác, đối với phần diện tích còn thiếu mà ông S được hưởng cũng không đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại vị trí khác của thửa đất số 266, tờ bản đồ số 09 do không đủ diện tích tối thiểu theo Quyết định số 12/2014/QĐ-UBND ngày 10/9/2014 (được sửa đổi bổ sung tại Quyết định 14/2023/QĐ –UBND ngày 13/7/2023) của Ủy ban nhân dân tỉnh P, nên cần buộc ông D phải thanh toán giá trị đất cho ông Phạm Đức S được hưởng theo di chúc là : 46.200.000đ; được hưởng theo quy định của pháp luật: 28.526.000₫ (Hai mươi tám triệu, năm trăm hai mươi sáu nghìn đồng). Tổng cộng là 74.726.000đ (Bảy mươi tư triệu, bảy trăm hai mươi sáu nghìn đồng) là phù hợp. Do vậy kháng cáo của ông Phạm Văn S1 buộc ông Phạm Văn D trả lại phần đất còn thiếu theo di chúc và theo thừa kế không được chấp nhận.

[3]. Xét yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn D – Là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào giấy uỷ quyền do cụ Phạm Văn T2 lập ngày 25/4/2005 và lời khai của các đương sự trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: Ông D được cụ T2 giao quản lý di sản từ ngày 25/4/2005. Cụ L3 cũng không có ý kiến gì về việc ông D được giao quản lý di sản. Vì vậy, theo quy định tại Điều 683 Bộ luật dân sự 2005, Điều 658 Bộ luật dân sự 2015 về thứ tự ưu tiên thanh toán thì chi phí quản lý di sản là chi phí được ưu tiên thanh toán nên Toà án cấp sơ thẩm ưu tiên thanh toán chi phí quản lý di sản cho ông D trước khi chia di sản thừa kế là phù hợp và đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, tính đến thời điểm hiện tại ông D đã quản lý thửa đất do cụ T2 và cụ L3 để lại đã 21 năm, việc quản lý di sản này chỉ có một mình ông D thực hiện. Cả nguyên đơn, bị đơn và các đồng thừa kế đều thừa nhận ông D có duy trì, tôn tạo đối với thửa đất cũng như chịu trách nhiệm xây nhà từ đường, làm lễ cúng bái, giỗ chạp từ khi 2 cụ mất đến nay, ông D cũng không yêu cầu gì về việc tôn tạo di sản. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm đã cho ông D hưởng công sức quản lý di sản bằng hiện vật là 1 suất thừa kế trong trường hợp di sản được chia theo pháp luật, tức là bằng 967m² : 8 = 121m² (Trong đó 25m² đất ở; 96m² đất vườn) là phù hợp và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông D. Không có căn cứ để tính công sức nhiều hơn. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn D.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Đức S và ông Phạm Văn D. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS- ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2].Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận ông Phạm Đức S và ông Phạm Đức D1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên ông Phạm Đức S và Phạm Văn D thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Đức S và ông Phạm Văn D. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS- ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyệnLâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ các Điều 656, Điều 658 Bộ luật dân sự 1995; Điều 652, Điều 653, Điều 657, Điều 658 Bộ luật dân sự 2005; Điều 609, Điều 611, Điều 612, Điều 613, 618, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 659, Điều 660; điểm a, khoản 1 Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông Phạm Đức S.

    Giao cho ông Phạm Đức S, bà Nguyễn Thị K được quyền sử dụng diện tích đất 174m² (trong đó 60m² đất ở và 114m² đất vườn), theo chỉ giới: 1,2,24,23, 18,19, 20, 21, 22,1 (Vị trí, kích thước, mốc giới có sơ đồ hiện trạng đo vẽ kèm theo).

    Giao cho ông Phạm Đức M được quyền sử dụng diện tích đất 130m²(trong đó 50 m² đất ở và 80m² đất vườn), theo chỉ giới: 13,14,15,25,26,13. (Vị trí, kích thước, mốc giới có sơ đồ hiện trạng đo vẽ kèm theo).

    Giao cho ông Phạm Văn D được quyền sử dụng diện tích đất 663m² (Trong đó 90m² đất ở và 573m² đất vườn), theo chỉ giới: 2, 3,4,5,6,7,8,9,10,11,12, 13,26,25,15,16,17,18,23,24,2 (Vị trí, kích thước, mốc giới có sơ đồ hiện trạng đo vẽ kèm theo).

    Ông Phạm Văn D có trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng ông Phạm Đức S, bà Nguyễn Thị K số tiền là: 46.200.000đ (bốn mươi sáu triệu, hai trăm nghìn đồng).

    Ông Phạm Văn D có trách nhiệm thanh toán cho ông Phạm Đức S, bà Phạm Thị Đ và bà Phạm Thị L mỗi người số tiền là 28.526.000đ (Hai mươi tám triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

    Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật ông Phạm Văn D, ông Phạm Đức S, bà Nguyễn Thị K, ông Phạm Đức M có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  2. Về lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

    Buộc ông Phạm Văn D phải hoàn trả cho ông Phạm Đức S số tiền chi phí thẩm định, định giá, đo vẽ mà ông Phạm Đức S đã nộp tạm ứng là 7.925.000₫ (Bảy triệu, chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

    Buộc bà Phạm Thị L, bà Phạm Thị Đ mỗi bà phải hoàn trả cho ông Phạm Đức S số tiền chi phí thẩm định, định giá, đo vẽ mà ông Phạm Đức S đã nộp tạm ứng là 302.500₫ (Ba trăm linh hai nghìn, năm trăm đồng).

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí dân sự:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.426.000đ (Một triệu bốn trăm hai mươi sáu nghìn đồng)
    • + Bà Phạm Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.426.000đ (Một triệu bốn trăm hai mươi sáu nghìn đồng).
    • + Ông Phạm Văn D, ông Phạm Đức M, ông Phạm Đức S, ông Phạm Đức M1, bà Phạm Thị L1, bà Phạm Thị L và bà Nguyễn Thị K được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
    • - Án phí phúc thẩm: Ông Phạm Đức S và ông Phạm Văn D được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND H.Lâm Thao;
  • - Chi cục THADS H.Lâm Thao;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/DS - PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 62/2024/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông S và ông M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger