Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SỐP CỘP

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lò Văn Dưỡng.
  2. Ông Mùa A Chư.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 11/9/2024, đối với bị cáo:

Trần Tuấn A

tên gọi khác: Tuấn A, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Trần Văn S (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị D; vợ, con: Chưa có;

- Tiền án:

  • Bản án số 62/2018/HSST ngày 18/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt Trần Tuấn A 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
  • Bản án số 128/2020/HS-ST ngày 29/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt Trần Tuấn A 03 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS.

- Tiền sự:

  • Ngày 03/8/2023, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Ngày 17/01/2024, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua số lô.
  • Ngày 03/6/2024, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Nhân thân:

  • Ngày 05/7/2017 bị Chủ tịch UBND xã V quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Ngày 07/3/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng.
  • Ngày 19/3/2018 bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Ngày 14/4/2020 bị Công an xã V ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng.

- Bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 04/5/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 45 phút ngày 03/5/2024, tổ công tác Công an huyện S phối hợp với Công an xã S, huyện S làm nhiệm vụ tại khu vực bản Hua Mường, xã S, huyện S phát hiện bắt quả tang Trần Tuấn A, sinh năm 1999 trú tại thôn N, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ trong trong lòng bàn tay phải của Tuấn A 02 gói nilon màu xanh, gói nilon màu xanh thứ nhất chứa 109 viên nén hình trụ tròn màu hồng; gói nilon màu xanh thứ hai chứa 141 viên nén hình trụ tròn màu hồng (đều nghi là ma túy tổng hợp). Ngoài ra còn tạm giữ của Trần Tuấn A 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S.

Ngày 04/5/2024, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả:

  • Cân tách bì 109 viên nén hình trụ tròn màu hồng có trong túi nilon màu xanh thứ nhất có tổng khối lượng 10,72 gam. Trích 05 viên có khối lượng 0,49 gam làm mẫu giám định ký hiệu A1. Còn lại 104 viên có tổng khối lượng 10,23 gam ký hiệu A2 làm vật chứng lưu kho.
  • Cân tách bì 141 viên nén hình trụ tròn màu hồng có trong túi nilon màu xanh thứ hai có tổng khối lượng 13,83 gam. Trích 05 viên có khối lượng 0,48 gam làm mẫu giám định ký hiệu A3. Còn lại 136 viên nén có tổng khối lượng 13,35 gam ký hiệu A4 làm vật chứng lưu kho.

Tại Kết luận giám định số 1026/KL-KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S, kết luận:

  • Mẫu ký hiệu A1, A3 gửi giám định đều là ma tuý; loại Methamphetamine; khối lượng mẫu gửi giám định là A1= 0,49gam, A3= 0,48 gam.
  • Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 24,55 gam; loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Ngày 01/5/2024, Trần Tuấn A một mình đi xe khách từ thành phố Hà Nội đến huyện S, tỉnh Sơn La để chơi, thăm quan. Khi đến trung tâm huyện S, Tuấn A gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nói chuyện hỏi nhà nghỉ ở huyện S để nghỉ ngơi. Đến chiều ngày 02/5/2024, Tuấn A tiếp tục gặp người đàn ông trên tại khu vực bản H, xã S, huyện S, do có nhu cầu sử dụng ma túy và nghĩ huyện S là huyện biên giới, vùng sâu, vùng xa, thiếu sự kiểm soát của cơ quan chức năng nên Tuấn A hỏi người đàn ông đó có ma túy bán không? người đàn ông đó trả lời là có. Sau khi nói chuyện thống nhất, bàn bạc với nhau, Tuấn A đưa cho người đàn ông đó số tiền 10.000.000 đồng để mua H phiến và trao đổi với nhau số điện thoại di động, hẹn khi nào có ma túy người đàn ông đó sẽ liên hệ lại với Tuấn A để đưa ma túy. Đến khoảng 21 giờ ngày 03/5/2024, người đàn ông đã nhận tiền của Tuấn A liên hệ lại qua điện thoại di động với Tuấn A và hẹn Tuấn A đến nhận ma túy tại khu vực chợ T huyện S thuộc bản H, xã S, huyện S. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, Tuấn A một mình đi bộ đến chỗ hẹn gặp người đàn ông đó và nhận lấy 02 túi nilon màu xanh, Tuấn A nhận lấy mở ra xem thì thấy bên trong 02 gói nilon đều chứa các viên H phiến. Tuấn A nhận lấy ma túy, cầm trong lòng bàn tay phải rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi đang đi trên đường thuộc bản Hua Mường, xã S, huyện S thì bị tổ công tác Công an huyện S phối hợp với Công an xã S, huyện S làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.

Cáo trạng số: 51/CT-VKSSC ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, truy tố Trần Tuấn A về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm g và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

  • Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.
  • Kiểm sát viên sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g và điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo 09 năm đến 10 năm tù. Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền); bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí, nên phải chịu án phí theo quy định chung; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định tội danh:

- Hồi 21 giờ 45 phút ngày 03/5/2024, tổ công tác Công an huyện S phối hợp với Công an xã S làm nhiệm vụ tại khu vực bản H, xã S, huyện S đã phát hiện bắt quả tang Trần Tuấn A có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Tuấn A 24,55 gam ma tuý, thuộc loại Methamphetamine. Mục đích Tàng trữ để sử dụng cá nhân.

- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người chứng kiến; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Tuấn A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Nhân thân: Bị cáo là có nhân thân xấu, nhiều tiền án, tiền sự.
  • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm thuộc trường hợp định khung nên không có tình tiết tăng nặng.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào nhân thân; khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ nên cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung, đồng thời có thời gian cho bị cáo cai bỏ ma tuý.

[5] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án: Đối với người đàn ông không rõ danh tính theo bị cáo khai đã mua ma túy cho bị cáo vào ngày 02/5/2024. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã tiến hành lấy lời khai, xác minh số thuê bao đã liên hệ với bị cáo và cho bị cáo nhận dạng, nhưng bị cáo không xác định được đối tượng cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo không có căn cứ nào khác để xác minh làm rõ, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, mở rộng vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.

[6] Vật chứng của vụ án còn lại: 23,58 gam Methamphetamine và các đồ vật liên quan là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ; chiếc điện thoại di động tạm giữ của bị cáo là vật liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản và không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền).

[8] Vê án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nên vẫn phải chịu án phí theo quy định chung.

[9] Về quan điểm của Kiểm sát viên như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm g, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn A phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt: Trần Tuấn A 09 năm tù (chín năm). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/5/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 02 túi nilon màu xanh đựng ban đầu; 01 túi nilon màu trắng chứa 104 viên Methamphetamine và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 136 viên Methamphetamine; được đựng trong 10 (một) Phong bì thư của Công an huyện S, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong kín.
    • Tịch thu phát mạt nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 51 ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát huyện S và biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/9/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an sự huyện S, tỉnh Sơn La).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 25/9/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Sốp Cộp;
  • - THA hình sự;
  • - CCTHA Dân sự huyện Sốp Cộp;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trấn Tuân A pham tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger