Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 62/2023/HNGĐ-ST.

Ngày: 25 - 8 - 2023

“V/v Tranh chấp ly hôn và quyền nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Quyền.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Hồng Quân.

Bà Trang Thị Cẩm Nhuần.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Ông Sơn Nhựt Nhân- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn và quyền nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 7 năm 2023 và quyết định hoãn phiên toàn số 40/2023/ QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ B, sinh năm 1985 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: khóm B, khu S, thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn T, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: khóm A, thị trấn Q, huyện T, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 5 năm 2023 và bản tự khai nguyên đơn chị Võ B trình bày:

Vào năm 2008 chị xác lập quan hệ vợ chồng với anh Nguyễn T và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Trong quá trình chung sống, chị và anh T có 01 người con chung tên Võ N, sinh ngày 26-11-2008. Chị và anh T không xác lập tài sản chung và cũng không có nợ chung. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cự cải qua lại với nhau đến tháng 01-01-2020 anh T đi làm xa không gửi tiền về nuôi con hay thăm hỏi quan tâm vợ con, cũng không có liên lạc với vợ con và người thân do đó chị và anh T đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Năm 2022 chị đã có đơn yêu cầu và Tòa án nhân dân huyện T đã có quyết định số 03/2022/QÐST-VDS ngày 17-10-2022 tuyên bố anh T mất tích. Do thời gian sống riêng đã lâu chị thấy không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • - Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn T.
  • - Về con chung: Võ N, sinh ngày 26-11-2008 đang sống cùng chị nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn T đã được triệu tập hợp lệ bằng hình thức niêm yết các văn bản tố tụng để mời anh tham gia phiên tòa hai lần nhưng anh Nguyễn T đều vắng mặt và không có lời trình bày.

Những vấn đề mà các đương sự đã thống nhất và không thống nhất: Không có.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51 và 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Võ B về việc cho chị ly hôn với Nguyễn T; về con chung chấp nhận yêu cầu của chị B giao con chung là Võ N, sinh ngày 26-11-2008 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu Nam, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị B không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; miễn án phí hôn nhân sơ thẩm cho chị Võ B theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, suốt quá trình thụ lý vụ án đến nay bị đơn vắng mặt và không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Nguyên đơn chị Võ B khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Nguyễn T. Đồng thời bị đơn có địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tại khóm A, thị trấn Q, huyện T, tỉnh Trà Vinh nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt chị Võ B có đơn xin xét xử vắng mặt. Riêng anh Nguyễn T đã có quyết định số 03/2022/QÐST-VDS ngày 17-10-2022 của Tòa án nhân dân huyện T tuyên bố anh mất tích. Đồng thời anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa hai lần bằng hình thức niêm yết văn bản ở nơi cư trú cuối cùng của anh trước khi bị tuyên bố mất tích nhưng cả hai lần anh T đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Theo chị Võ B khai thì chị và anh Nguyễn T đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện T, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01, vào ngày 14-02-2008. Lời trình bày của chị B phù hợp với tài liệu đã cung cấp là Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân thị trấn Q cấp ngày 14-02-2008 nên xác định hôn nhân giữa chị Võ B và anh Nguyễn T là hôn nhân hợp pháp. Theo nguyên đơn chị B trình bày năm 2020 vợ chồng thường xuyên cự cải qua lại với nhau và phát sinh mâu thuẫn đến tháng 01 năm 2020 anh T đi làm xa không gửi tiền về nuôi con hay thăm hỏi quan tâm vợ con, do đó chị và anh T đã ly thân từ đó đến nay.

Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, do bất đồng quan điểm trong lối sống hàng ngày nên từ tháng 01 năm 2020 chị và anh T đã cự cãi và sống ly thân đến nay (hơn 03 năm), không ai quan tâm cuộc sống của ai, thậm chí chị B không liên lạc và cũng hoàn toàn không biết tung tích của anh T. Chị B đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T tuyên bố anh Nguyễn T mất tích và đến ngày 17-10-2022 Tòa án nhân dân huyện T tuyên bố anh Nguyễn T mất tích bằng quyết định số 03/2022/QĐST-VDS ngày 17-10-2022. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập, cũng như quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập) hợp lệ. Mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Trong đơn khởi kiện và bản tự khai chị B khẳng định không còn tình cảm với anh T, cũng như chị có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án bởi thời gian anh T mất tích đã kéo dài 03 năm, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Từ những nhận định trên chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị B và anh T đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đồng thời căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”. Do đó, căn cứ theo quy định tại Khoản 1, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị B được ly hôn với anh T.

[4] Về con chung: Con chung của chị B và anh T là Võ N, sinh ngày 26-11-2008 hiện đang sống chung với mẹ và chị B cũng yêu cầu tiếp tục nuôi con. Đồng thời cháu Nam cũng thể hiện nguyện vọng sống chung với mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Võ B khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Anh Nguyễn T vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử dành cho anh T quyền khởi kiện một vụ kiện khác nếu có yêu cầu và chứng minh được về tài sản chung và nợ chung.

[6] Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội tuy nhiên chị Võ B thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí được Tòa án chấp nhận nên chị không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ B.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ B được ly hôn với anh Nguyễn T.
  2. Về con chung: Chị Võ B và anh Nguyễn T có 01 người con chung tên Võ N, sinh ngày 26-11-2008. Giao cho chị B trực tiếp nuôi con chung theo nguyện vọng của cháu Nam. Về cấp dưỡng nuôi con Tòa án đã giải thích cho chị B về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhưng do chị B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Võ B khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Anh Nguyễn T vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử dành cho anh Nguyễn T quyền khởi kiện một vụ kiện khác nếu có yêu cầu về tài sản chung và nợ chung.
  4. Về án phí: Nguyên đơn chị Võ B thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí được Tòa án chấp nhận nên chị không phải chịu án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai hợp pháp để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh tỉnh Trà Vinh xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện T;
  • - Chi cục THADS huyện T;
  • - UBND thị trấn Q, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Ngọc Quyền

(đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn và quyền nuôi con

  • Số bản án: 62/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và quyền nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn và tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger