|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 62/2024/HS-ST Ngày 25-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu.
2. Ông Lưu Thế Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh T, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 25/02/1988 tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn S, sinh năm 1956; Con bà: Trần Thị X, sinh năm 1957; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo có vợ là Đỗ Thị K, sinh năm 1993, có 03 con sinh năm 2015, 2019 và 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/01/2024 đến ngày 20/01/2024 thì được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phạm Thị Y, sinh năm: 1985, nơi cư trú: Làng N, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Ông Phạm Văn T1, sinh năm: 1963, nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Những người làm chứng:
- Anh Phạm Văn L, sinh năm: 2003, nơi cư trú: Làng Nghiện, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị O, sinh năm: 1968, nơi cư trú: Làng B, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Chị Đỗ Thị K, sinh năm: 1993, nơi cư trú: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 17/3/2023 đến 11/9/2023, Nguyễn Thanh T đã cho 02 người vay tổng số tiền là 250.000.000 đồng với lãi suất từ 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày đến 5.500 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương với mức lãi suất từ 182,5%/năm đến 200,75%/năm, gấp 9,125 lần đến 10,038 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật Dân sự. T là người trực tiếp thỏa thuận với người vay về số tiền cho vay và lãi suất. Hình thức cho vay là viết giấy vay tiền, không thế chấp, tiền lãi sẽ được thu trước theo thời hạn vay, khi hết hạn vay nếu người vay không trả được gốc thì đóng tiền lãi trước theo kỳ là 10 ngày để gia hạn khoản vay. Cụ thể như sau:
1. Đối với trường hợp cho chị Phạm Thị Y (sinh năm 1985, ở Làng N, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) vay tiền:
Lần thứ nhất: Ngày 17/3/2023, chị Phạm Thị Y đến nhà Nguyễn Thanh T vay 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng), lãi suất là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, thời hạn vay 01 tháng. T đã tính và thu lãi trước 01 tháng bằng 5.250.000 đồng, sau đó yêu cầu chị Y viết giấy vay tiền rồi T sử dụng số tài khoản 19888356789 của T tại Ngân hàng TMCP Q (MB) chuyển khoản cho chị Y số tiền là 30.000.000 đồng vào số tài khoản 3510205210732 của chị Y tại Ngân hàng N (A). Số tiền lãi còn thiếu là 250.000 đồng thì chị Y đưa tiền mặt cho T.
Lần vay thứ 2: Ngày 29/3/2023 chị Y đến nhà T vay 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), T tính lãi suất là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, thời hạn vay 01 tháng. T đã thu lãi trước 01 tháng là 6.000.000 đồng rồi dùng số tài khoản 19888356789 tại Ngân hàng TMCP Q (MB) của T chuyển số tiền 34.000.000 đồng vào số tài khoản 3510205210732 của chị Y tại Ngân hàng A.
Lần vay thứ 3: Ngày 13/5/2023, chị Y vay của T số tiền là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), lãi suất là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, thời hạn vay là 10 ngày. T đã thu lãi trước 10 ngày là 1.250.000 đồng. Sau đó, T dùng số tài khoản 19888356789 của T chuyển khoản cho chị Y số tiền là 23.750.000 đồng vào số tài khoản 3510205210732 của chị Y tại Ngân hàng A.
Lần vay thứ 4: Ngày 15/6/2023, chị Y gọi điện thoại vay Nguyễn Thanh T 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), lãi suất là 5.500 đồng/01 triệu/01 ngày, thời hạn vay là 10 ngày. T đã thu trước số tiền lãi của 10 ngày là 2.750.000 đồng. Lúc này, tiền lãi của 03 lần vay đầu chị Y đang nợ tiền lãi của T là 7.250.000 đồng nên T đã thu tiền nợ lãi này và thu trước tiền lãi của khoản vay lần thứ tư là 2.750.000 đồng, tổng cộng là 10.000.000 đồng. Vì vậy, T chỉ chuyển khoản cho chị Y số tiền là 40.000.000 đồng vào số tài khoản 1000007060802899 của chị Y tại Ngân hàng C.
Từ ngày 15/6/2023, T thống nhất với chị Y sẽ gộp ba lần vay đầu thành tổng số tiền là 100.000.000 đồng tính lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, thời hạn vay sẽ tính từ ngày 15/6/2023. Vì vậy, tính từ ngày 15/6/2023 giữa T và chị Y sẽ có 02 khoản vay nợ là khoản vay 100.000.000 đồng lãi suất 5.000 đồng/01 ngày/01 triệu và khoản vay 50.000.000 đồng lãi suất là 5.500 đồng/01 triệu/01 ngày.
Trong quá trình vay giữa Nguyễn Thanh T và chị Phạm Thị Y thỏa thuận về thời hạn trả lãi theo thời hạn vay là 01 tháng hoặc 10 ngày theo từng lần vay khi gia hạn thì thu theo kỳ là 10 ngày. Tuy nhiên khi đến ngày trả lãi chị Y không trả lãi đúng ngày và đúng số tiền lãi của từng khoản vay như đã thỏa thuận mà có thể chậm 01 đến 02 ngày và trả nhiều tiền hơn hoặc ít tiền hơn số tiền lãi của từng khoản vay và trả lãi chung cho các khoản vay, không tách riêng từng khoản. Chị Y trả lãi cho T đến ngày 11/9/2023 thì không có khả năng trả lãi để gia hạn các khoản vay. Đến nay, chị Y chưa trả tổng số nợ gốc 150.000.000 đồng cho T.
Quá trình điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã chứng minh được việc T thu lãi của chị Y như sau:
Từ khi cho vay đến ngày 14/6/2023 T đã thu được của chị Y tổng số tiền lãi của ba khoản vay đầu là 41.700.000 đồng. Cụ thể: Ngày 17/3/2023 cắt lãi trước của khoản vay 1 là 5.250.000 đồng; Ngày 29/3/2023 cắt lãi trước của khoản vay 2 là 6.000.000 đồng; Ngày 17/4/2023 thu 1.750.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 03/5/2023 thu 13.850.000 đồng (tiền mặt, trong đó có 1.100.000 đồng là tiền phạt chậm đóng lãi); Ngày 13/5/2023 cắt lãi trước của khoản vay 3 là 1.250.000 đồng; Ngày 22/5/2023 thu 1.250.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 31/5/2023 thu 3.750.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 01/6/2023 thu 1.350.000 đồng (chuyển khoản) và ngày 15/6/2023 cắt lãi của khoản vay 4 là 7.250.000 đồng.
Từ ngày 15/6/2023 đến ngày 11/9/2023, T đã thu được của chị Y tổng số tiền lãi là 67.900.000 đồng. Cụ thể: Ngày 15/6/2023 thu lãi trước của khoản vay 4 là 2.750.000 đồng; Ngày 17/6/2023 thu 500.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 28/6/2023 thu 1.000.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 30/6/2023 thu 400.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 03/7/2023 thu 1.250.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 05/7/2023 thu 2.750.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 22/7/2023 thu 5.000.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 28/7/2023 thu 2.750.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 31/7/2023, thu 4.000.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 01/8/2023 thu 1.000.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 03/8/20223, thu 1.000.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 05/8/2023 thu 1.750.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 09/8/2023 thu 3.750.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 12/8/2023 thu 8.000.000 đồng (tiền mặt); Ngày 14/8/2023, thu 2.000.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 15/8/2023 thu 2.000.000 đồng (tiền mặt); Ngày 21/8/2023 thu 4.500.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 25/8/2023 thu 3.250.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 28/8/2023 thu 5.000.000 đồng (tiền mặt); Ngày 05/9/2023 thu 2.750.000 đồng; Ngày 11/9/2023, thu 5.000.000 đồng (chuyển khoản) và 02 lần không nhớ ngày tháng cụ thể mỗi lần thu là 3.750.000 đồng (tiền mặt).
Xác định số tiền T đã thu lợi bất chính từ khi cho chị Y vay tiền đến ngày 14/6/2023: Đối với khoản vay thứ nhất là 35.000.000 đồng từ ngày 17/3/2023 đến ngày 14/6/2023 (90 ngày) số tiền lãi T được thu tương ứng mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/năm) là 1.726.027 đồng. Đối với khoản vay thứ hai là 40.000.000 đồng từ ngày 29/3/2023 đến ngày 14/6/2023 (78 ngày) số tiền lãi T được thu theo quy định là 1.709.589 đồng. Đối với khoản vay thứ ba là 25.000.000 đồng từ ngày 13/5/2023 đến ngày 14/6/2023 (31 ngày) số tiền lãi T được thu theo quy định là 424.658 đồng. Tổng số tiền lãi T được thu theo quy định tính đến ngày 14/6/2023 là 3.860.274 đồng. Tổng số tiền lãi thực tế T đã thu của chị Y tính đến ngày 14/6/2023 là 41.700.000 đồng. Số tiền T thu lợi bất chính của 03 lần cho vay đầu tính đến ngày 14/6/2023 là 37.839.726 đồng.
Xác định số tiền T đã thu lợi bất chính từ ngày 15/6/2023 đến ngày 11/9/2023: Đối với khoản vay 100.000.000 đồng (cộng gộp của 03 khoản vay đầu) từ ngày 15/6/2023 đến ngày 11/9/2023 (89 ngày) số tiền lãi T được thu theo quy định là 4.876.712 đồng. Đối với khoản vay 50.000.000 đồng (khoản vay thứ tư) từ 15/6/2023 đến ngày 11/9/2023 (89 ngày) số tiền lãi T được thu theo quy định là 2.438.356 đồng. Tổng số tiền lãi T được thu theo quy định từ ngày 15/6/2023 đến ngày 11/9/2023 là 7.315.068 đồng. Tổng số tiền lãi thực tế T đã thu được của chị Y từ ngày 15/6/2023 đến ngày 11/9/2023 là 67.900.000 đồng. Số tiền T đã thu lợi bất chính từ ngày 15/6/2023 đến 11/9/2023 là 60.584.932 đồng.
Như vậy, tổng số tiền thu lợi bất chính mà Nguyễn Thanh T đã thu được trong suốt quá trình cho chị Phạm Thị Y vay tiền là: 98.424.658 đồng.
2. Đối với trường hợp cho ông Phạm Văn T1 (sinh năm 1963 ở thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) vay tiền:
Ngày 27/4/2023, ông Phạm Văn T1 vay của Nguyễn Thanh T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), lãi suất là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, thời hạn vay là 01 tháng, T đã cắt lãi trước 01 tháng tương ứng với số tiền là 15.000.000 đồng. Số tiền còn lại là 85.000.000 đồng, T đưa tiền mặt cho ông T1. Quá trình vay không cầm cố tài sản, chỉ viết giấy vay tiền và T giữ lại một số giấy tờ của ông T1. Đến ngày 27/5/2023 hết hạn vay nhưng ông T1 không trả gốc cho T được nên đã thỏa thuận gia hạn khoản vay và trả tiền lãi theo kỳ 10 ngày. Do tin tưởng ông T1, nên T đã trả lại các giấy tờ đã giữ cho ông T1. Ông T1 đã thanh toán tiền lãi cho Nguyễn Thanh T từ khi vay đến ngày 15/8/2023 với tổng số tiền 60.000.000 đồng, sau đó không còn khả năng trả lãi. Đến nay, ông T1 chưa trả nợ gốc cho T.
Tổng số tiền lãi T đã thu được của ông T1 là 60.000.000 đồng, cụ thể như sau: Ngày 27/4/2023 cắt lãi trước 15.000.000 đồng; Ngày 25/5/2023 thu 5.000.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 05/6/2023 thu 5.000.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 15/6/2023 thu 5.000.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 30/6/2023, thu 5.000.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 06/7/2023, thu 5.000.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 15/7/2023 thu 5.000.000 đồng (chuyển khoản); Ngày 25/7/2023, thu 5.000.000 đồng (Tiền mặt); Ngày 07/8/2023, thu 5.000.000 đồng (Tiền mặt); Ngày 15/8/2023, thu 5.000.000 đồng (chuyển khoản).
Xác định số tiền thu lợi bất chính: Số tiền lãi T được thu theo quy định từ ngày 27/4/2023 đến 15/8/2023 (111 ngày) là 6.082.192 đồng. Số tiền lãi thực tế T đã thu của ông T1 là 60.000.000 đồng. Số tiền T thu lợi bất chính khi cho ông T1 vay tiền là 53.917.808 đồng.
Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thanh T đã cho chị Phạm Thị Y và ông Phạm Văn T1 vay với mức lãi từ 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày đến 5.500 đồng/01 triệu/01 ngày là 250.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi T đã thu là 169.600.000 đồng. Tổng số tiền lãi T được thu tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/năm) là 17.257.534 đồng. Tổng số tiền T thu lợi bất chính là 152.342.466 đồng (Một trăm năm mươi hai triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng).
Quá trình điều tra đã chứng minh được trong số tiền 250.000.000 đồng T cho chị Y và ông T1 vay có 200.000.000 đồng là tiền cá nhân T tích cóp được và vay của người thân để cho vay, số tiền còn lại là 50.000.000 đồng T lấy từ tiền lãi thu được của chị Y và ông T1 để quay vòng cho vay.
Ngày 11/01/2024, chị Phạm Thị Y đã đến Công an huyện Y trình báo sự việc.
Nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nên ngày 11/01/2024, Nguyễn Thanh T đã đến Công an huyện Y đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Sau khi Nguyễn Thanh T đầu thú, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T nhưng không phát hiện, thu giữ gì.
Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh T đã giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, có số seri: K6LXY04G7V, có số Imei 1: 359481985809473 và số Imei 2: 359481985598944, bên trong lắp sim số thuê bao 0963319468.
Về bồi thường dân sự:
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Nguyễn Thanh T đã tự nguyện hoàn trả cho ông Phạm Văn T1 số tiền thu lợi bất chính là 53.917.808 đồng, hai bên đã thỏa thuận giải quyết xong, ông T1 không có yêu cầu gì thêm.
Đối với chị Phạm Thị Y: Nguyễn Thanh T đã trao đổi với chị Y tự nguyện hoàn trả cho chị Y một phần số tiền thu lợi bất chính nhưng chị Y không nhận. Chị Y yêu cầu T phải hoàn trả toàn bộ số tiền thu lợi bất chính là 98.424.658 đồng. T đã tự nguyện nộp vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định số tiền 10.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKSYÐ ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố Nguyễn Thanh T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, không áp dụng hình phạt bổ sung. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường xong số tiền thu lợi bất chính cho ông Phạm Văn T1. Buộc bị cáo phải trả lại cho chị Phạm Thị Y số tiền thu lợi bất chính là 98.424.658 đồng, được trừ đi số tiền 10.000.000 đồng bị cáo đã nộp vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định. Về xử lý vật chứng: Đề nghị: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax (bên trong gắn sim số thuê bao 0963319468). Về biện pháp tư pháp: Đề nghị truy thu số tiền gốc bị cáo sử dụng để cho vay là 200.000.000 đồng, do người vay chưa trả nợ cho bị cáo nên truy thu từ người vay, cụ thể: Truy thu của chị Phạm Thị Y 125.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước; truy thu của ông Phạm Văn T1 75.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước. Truy thu của bị cáo số tiền do phạm tội mà có là 17.257.534 đồng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh:
Thông qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thanh T hoàn toàn thừa nhận: Trong khoảng thời gian từ ngày 17/3/2023 đến ngày 11/9/2023, Nguyễn Thanh T đã có hành vi cho chị Phạm Thị Y và ông Phạm Văn T1 vay tiền với lãi suất từ 5.000 đồng/01 triệu/01ngày đến 5.500 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương mức lãi suất 182,5%/năm đến 200,75%/năm, gấp 9,125 lần đến 10,038 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Tổng số tiền Nguyễn Thanh T đã cho vay là 250.000.000 đồng, thu lãi số tiền 169.600.000 đồng. Trong đó tổng số tiền T đã thu lợi bất chính là 152.342.466 đồng (Một trăm năm mươi hai triệu, ba trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng).
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, HĐXX xét thấy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo cho vay lãi nặng thu lợi bất chính số tiền trên 100.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo theo tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và quan hệ pháp luật xâm phạm: Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ mà còn xâm phạm đến lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả trả lại số tiền lãi vượt quá quy định cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, HĐXX xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo ở ngoài cộng đồng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo để giáo dục mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền gốc bị cáo sử dụng để cho vay là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Trong số 250.000.000 đồng bị cáo cho vay có 200.000.000 đồng là tiền vốn gốc ban đầu bị cáo dùng để cho vay, số tiền còn lại là 50.000.000 đồng bị cáo lấy từ tiền lãi thu được để quay vòng cho vay. Vì vậy cần truy thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền vốn gốc bị cáo dùng để cho vay là 200.000.000 đồng. Những người vay chưa trả tiền nợ gốc cho bị cáo nên cần truy thu từ người vay. Trong số tiền 150.000.000 đồng bị cáo cho chị Y vay thì có 125.000.000 đồng là tiền vốn gốc của bị cáo và 25.000.000 đồng là tiền lãi bị cáo thu được dồn lại để cho vay. Vì vậy cần phải truy thu của chị Y số tiền 125.000.000 đồng. Trong số tiền 100.000.000 đồng bị cáo cho ông T1 vay thì có 75.000.000 đồng là tiền vốn gốc của bị cáo và 25.000.000 đồng là tiền lãi thu được bị cáo dồn lại để cho vay. Vì vậy cần phải truy thu của ông T1 số tiền 75.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền lãi bị cáo thu từ 02 người vay tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/năm) tổng là 17.257.534 đồng: Đây là tiền bị cáo được hưởng lợi do phạm tội mà có nên cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền lãi bị cáo thu từ người vay vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/năm) là tiền thu lời bất chính nên bị cáo phải trả lại cho người vay.
Bị cáo đã tự nguyện trả cho ông Phạm Văn T1 đầy đủ số tiền lãi thu vượt quá quy định, hai bên đã tự thỏa thuận đối trừ nghĩa vụ trả nợ, ông T1 không có yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.
Bị cáo chưa trả cho chị Phạm Thị Y số tiền lãi thu vượt quá quy định. Vì vậy buộc bị cáo phải trả cho chị Y số tiền là 98.424.658 đồng, được trừ đi số tiền 10.000.000 đồng bị cáo đã nộp vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định theo Biên lai thu tiền số 0001692 ngày 25/7/2024. Ngoài ra, sau khi truy thu của chị Y 125.000.000 đồng thì chị Y còn nợ bị cáo 25.000.000 đồng, chị Y có trách nhiệm trả cho bị cáo. Xét thấy số tiền này có nguồn gốc từ tiền lãi bị cáo thu được của chị Y sau đó cho chị Y vay lại, nên được đối trừ vào nghĩa vụ của bị cáo đối với chị Y.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax thu giữ của bị cáo là công cụ phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 sim số thuê bao 0963319468 gắn bên trong điện thoại này thì tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 201, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 65, Điều 46, khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về biện pháp tư pháp:
Truy thu của chị Phạm Thị Y số tiền 125.000.000 đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Truy thu của ông Phạm Văn T1 số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Truy thu của bị cáo Nguyễn Thanh T số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự là 17.257.534 đồng (Mười bảy triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi tư đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T trả cho chị Phạm Thị Y số tiền lãi thu vượt quá quy định là 98.424.658 đồng (Chín mươi tám triệu bốn trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm năm mươi tám đồng), được trừ đi số tiền 10.000.000 đồng bị cáo đã nộp vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định theo Biên lai thu tiền số 0001692 ngày 25/7/2024 và trừ đi số tiền 25.000.000 đồng chị Y còn nợ bị cáo. Bị cáo còn phải trả cho chị Y số tiền là 63.424.658 đồng (Sáu mươi ba triệu bốn trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm năm mươi tám đồng).
4. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, có số seri: K6LXY04G7V, có số Imei 1: 359481985809473 và số Imei 2: 359481985598944.
- Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim số thuê bao 0963319468 (gắn bên trong điện thoại nêu trên).
Các vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo phiếu nhập kho số NK 57 ngày 26/6/2024.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |
Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 62/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử Nguyễn Thanh T phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
