Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 6 - 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tố Uyên
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Lê Thị Nguyệt
    • Bà Trần Kim Thoa
  • - Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
  • - Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 206/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐ-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1987; địa chỉ thường trú: Xóm H, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; tạm trú: 36/1 khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  • - Bị đơn: Ông Lê Trọng S, sinh năm 1982; địa chỉ thường trú: Xóm H, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; tạm trú: 36/1 khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/10/2023 và bản tự khai ngày 25/4/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:

Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Lê Trọng S sống chung và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 20/02/2011.

Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính tình hai bên không hợp nhau, không cùng suy nghĩ, không đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn xảy ra từ rất lâu nhưng do con cái còn nhỏ nên bà L vẫn cố gắng sống chung với ông S để con cái có cha, có mẹ. Mặc dù bà L đã cố gắng nhiều cách nhưng mâu thuẫn vẫn dai dẳng, cuộc sống quá ngột ngạt, vợ chồng sống với nhau không có hạnh phúc. Vì vậy, bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L đề nghị Tòa án giải quyết cho bà L được ly hôn với ông Lê Trọng S.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà L và ông Lê Trọng S có 02 người con chung tên Lê Anh K, sinh ngày 09/8/2011 và Lê Anh K1, sinh ngày 23/9/2014. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết giao 02 người con chung cho bà L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện, bà L yêu cầu ông Lê Trọng S cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng/một người con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Nay bà L thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng cứ, tài liệu nguyên đơn cung cấp: Bản chứng thực Căn cước công dân, Thông báo kết quả giải quyết cư trú; Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao Giấy khai sinh và các tài liệu khác có liên quan đến hồ sơ vụ án.

Bị đơn ông Lê Trọng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng bị đơn vẫn không đến làm việc cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quá trình đưa vụ án ra xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn với bị đơn ông Lê Trọng S cũng như yêu cầu về con chung; bà L không yêu cầu ông Lê Trọng S cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Bị đơn không chấp hành đúng pháp luật do đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Bà Nguyễn Thị Ngọc L1 ông Lê Trọng S có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 20/02/2011. Nay bà Nguyễn Thị Ngọc L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lê Trọng S đồng thời giải quyết về vấn đề con chung. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Khoản 1, Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Ông Lê Trọng S hiện cư trú tại phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 35 và Điểm a, Khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thụ lý đúng thẩm quyền.

[1.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Lê Trọng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa xét xử lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 1, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Lê Trọng S chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Xét thấy, trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L cho rằng nhiều năm về trước, bà L và ông S thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp về suy nghĩ và quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài cho đến hiện tại. Mặc dù hai bên sống chung với nhau nhưng hai bên không còn quan hệ tình cảm vợ chồng, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Bên cạnh đó, từ khi bà L nộp đơn ly hôn đến Tòa án nhân dân thành phố Thuận An cho đến nay, ông S có biết việc bà L muốn ly hôn nhưng không có động thái gì nhằm hàn gắn hạnh phúc gia đình. ông S đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để lấy lời khai, hòa giải, tham gia phiên tòa để nhằm mục đích đoàn tụ nhưng vẫn không đến Tòa, thể hiện ý chí ông S không có thiện chí đoàn tụ vợ chồng. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông S là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về việc yêu cầu được ly hôn với ông S.

[2.3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Lê Trọng S có 02 người con chung tên Lê Anh K, sinh ngày 09/8/2011 và Lê Anh K1, sinh ngày 23/9/2014. Bà Nguyễn Thị Ngọc L yêu cầu Toà án giải quyết giao 02 người con chung cho bà L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Nguyễn Thị Ngọc L hiện nay đang có công việc và thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để đảm bảo chăm sóc cho con chung trong sinh hoạt và học hành. Bên cạnh đó, ông Lê Trọng S quá trình tố tụng không đến Tòa án để làm việc cũng như nêu nguyện vọng của mình về việc nuôi con. Do đó, để đảm bảo cho các con chung có cơ sở phát triển ổn định về mặt thể chất, tinh thần, phù hợp với nguyện vọng của các con chung, cần phải giao cháu Lê Anh K và Lê Anh K1 cho bà Nguyễn Thị Ngọc L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là ý chí tự nguyện của bà L, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.5] Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.6] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.7] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1, Điều 28; Điểm a, Khoản 1, Điều 35; Điểm a, Khoản 1, Điều 39; Khoản 3, Điều 144; Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 1, Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L đối với bị đơn ông Lê Trọng S về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với ông Lê Trọng S.
  • - Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 người con chung tên Lê Anh K, sinh ngày 09/8/2011 và Lê Anh K1, sinh ngày 23/9/2014.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Ngọc L về việc không yêu cầu ông Lê Trọng S cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nuôi con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai số 0001665 ngày 12/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo đúng quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tp. Thuận An;
  • - Chi cục THADS TP. Thuận An;
  • - Phòng Tư pháp tp. Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện yêu cầu ly hôn và tranh chấp con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger