Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày 23 - 7 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hài

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tiến; Bà Nguyễn Thị Huệ;

Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm đặt tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công. Tòa án nhân dân thành phố Sông Công mở phiên tòa rút kinh nghiệm trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/ TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Thị D, sinh ngày 26/8/1987, tại: xã Đ, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Nơi ĐKHKTT: Tổ A, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Nơi ở hiện nay: Không có chỗ ở cố định.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; giới tính: Nữ; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Bùi Trọng K, sinh năm 1964 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1966. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất.

Chồng: Đỗ Xuân K1, sinh năm 1983 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 129/2012/HSST ngày 20/7/2012 của Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản (Đến nay đã được xoá án tích)

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/4/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên và có mặt tại phiên toà,

- Bị hại: Chị Thào Thị B, sinh năm 2003 (Có mặt).

Nơi ĐKHKTT: Bản T, xã H, huyện S, tỉnh Lai Châu;

Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố V, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

1

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lưu Quang V, sinh năm 1991 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: Tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

- Người tham gia tố tụng khác: Ông Trần Văn Đ - Cán bộ nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/3/2024, Bùi Thị D đến làm thuê cho nhà hàng C (địa chỉ tổ dân phố V, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên). Tại đây, D được Nhà hàng C cho D và các nhân viên nữ ở chung một phòng. Trong quá trình làm việc, do không có tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 6 giờ ngày 27/3/2024, D ngủ dậy (lúc này các nhân viên nữ trong phòng đang ngủ) thì D thu dọn đồ cá nhân để nghỉ làm việc tại quán Cảnh H. Lúc này, D nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro dung lượng 64Gb bản quốc tế màu đen có ốp lưng bằng nhựa màu đen, trắng, đỏ, xanh hình doremon của chị Thào Thị B (sinh năm 2003, trú tại: Bản T, xã H, huyện S, tỉnh Lai Châu) đang cắm sạc tại vị trí gối ngủ của D, thấy mọi người trong phòng đang ngủ nên D nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại của chị Thào Thị B đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. D lén lút rút sạc điện thoại, rồi cho chiếc điện thoại vào túi quần phía trước đang mặc, sau đó D đi bộ đến khu vực ngã tư V, D thuê một người đàn ông (không biết tên tuổi địa chỉ) với giá 80.000 đồng, chở D đi đến khu vực Khu công nghiệp Đ, huyện P. Trên đường đi, D tháo sim chiếc điện thoại vứt xuống đường, kiểm tra phía sau ốp điện thoại phát hiện có 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng D cất tiền vào túi quần và đi thuê nhà nghỉ tại khu vực khu công nghiệp Đ. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, D mang chiếc điện thoại trộm cắp được của chị B ra cửa hàng điện thoại của anh Lưu Quang V (sinh năm 1991, địa chỉ: T, phường Đ, thành phố P) bán được số tiền 1.800.000 đồng và đã chi tiêu hết. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, chị Thào Thị B đã trình báo đến Cơ quan Công an thành phố Sông Công để giải quyết. Đến ngày 09/4/2024, chị Thào Thị B phát hiện D tại khu công nghiệm Điềm Thụy nên đã đưa D đến Công an thành phố Sông Công để làm việc. Đến ngày 11 tháng 4 năm 2024, anh Lưu Quang V giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro dung lượng 64Gb bản quốc tế màu đen có ốp lưng bằng nhựa màu đen, trắng, đỏ, xanh hình doremon anh V mua của Bùi Thị D.

Cơ quan điều tra Công an thành phố S tiến hành trưng cầu định giá tài sản Dung trộm cắp của chị B. Tại kết luận định giá tài sản số 24 ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố S kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro dung lượng 64Gb bản quốc tế màu đen đã qua sử dụng có giá 5.833.000 đồng; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa có hình doremon màu đen trắng đỏ, xanh có giá 15.000 đồng. Tổng tài sản là 5.848.000đ.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro dung lượng 64Gb bản quốc tế màu đen đã qua sử dụng, 01 ốp lưng điện thoại bằng

2

nhựa có hình doremon màu đen trắng đỏ, xanh, ngày 05/6/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại chị Thào Thị B quản lý sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Thào Thị B đã nhận lại chiếc điện thoại và không yêu cầu bị cáo D bồi thường số tiền 1.000.000 đồng, anh Lưu Quang V không yêu cầu bị cáo D bồi thường số tiền 1.800.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 58/ CT-VKS ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Bùi Thị D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Thị D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong phần tranh tụng, bị hại, bị cáo không ý kiến tranh luận. Bị cáo bị thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là không oan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ buộc tội:

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận: Bị cáo là người làm thuê tại quán ăn C1 thuộc TDP V, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình làm việc bị cáo cùng những nhân viên khác làm việc và sinh hoạt cùng nhau tại phòng ở của quán. Tuy nhiên, vì làm việc không hợp, thu nhập không đủ chi tiêu, ngoài ra bị cáo có sử dụng ma tuý nên bị cáo muốn bỏ việc. Nên khoảng 6 giờ ngày 27/3/2024, khi mọi người trong phòng đang ngủ, bị cáo nằm ngủ cạnh chị Thào Thị B thì thấy chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 pro màu đen, ốp lưng bằng nhựa hình doremon của chị B đang sạc pin để trên gối phía đầu bị cáo nằm nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại để lấy tiền tiêu xài. Bị cáo rút sạc pin và lấy điện thoại cho vào túi quần bên trái phía trước và rời khỏi phòng. Sau đó bị cáo bắt taxi đi sang Điềm T, trên đường đi bị cáo tháo ốp điện thoại ra thì thấy bên

3

trong ốp có 1 triệu đồng (gồm 2 tờ 500.000đồng), bị cáo lấy tiền cất vào túi, tháo sim điện thoại vứt ra ngoài đường, lắp lại ốp và cất vào túi rồi thuê nhà nghỉ ở khu vực phường H, thành phố P. Đến khoảng 15 giờ bị cáo đi bộ đến cửa hàng điện thoại Huy H1 (thuộc phường H, TP P) để bán điện thoại Iphone 11 pro bị cáo trộm cắp của chị Thào Thị B với giá 1.800.000 đồng. Quá trình mua bán, bị cáo không nói với người mua là điện thoại do bị cáo trộm cắp. Số tiền sau khi bán điện thoại bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 09/4/2024, bị cáo quay lại quán ăn C1 gặp chị B để xin lỗi và khắc phục hậu quả nhưng do không có tiền nên chị B đã trình báo sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T để giải quyết. Bị cáo chưa bồi thường khắc phục số tiền 1.000.000 đ đã trộm cắp của chị B.

Lời khai của bị hại chị Thào Thị B tại phiên toà: Tôi làm nhân viên phục vụ của quán ăn C1, ngày 20/3/2024 có Bùi Thị D đến làm việc và ăn ở chung phòng với chúng tôi. Khoảng 1 giờ ngày 27/3/2024 khi tôi làm việc xong trở về phòng ngủ thì thấy D đã ngủ trên giường. Tôi sử dụng điện thoại đến khoảng 3 giờ thì cắm sạc điện thoại ở đầu giường rồi đi ngủ. Đến khoảng 7 giờ tôi dậy thì không thấy D đâu, tôi kiểm tra thì phát hiện bị mất chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro. Sau đó, D không quay lại quán để làm việc nữa, không ai liên lạc được với D. Đến khoảng 11 giờ ngày 09/4/2024, D quay lại quán và thừa nhận đã trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 11 pro và số tiền 1.000.000đ ở trong ốp điện thoại của tôi vào ngày 27/3/2024. Số tiền bán điện thoại và tiền trộm cắp D đã tiêu xài cá nhân hết D không chuộc và trả lại tôi nên tôi đã trình báo cơ quan Công an để giải quyết theo quy định. Đến nay tôi đã nhận lại được tài sản là chiếc điện thoại Iphone 11 pro, đối với số tiền 1.000.000đ bị cáo D trộm cắp thì tôi không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho tôi nữa. Về hình phạt đối với bị cáo tôi đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lưu Quang V có trong hồ sơ vụ án: Khoảng 15 giờ ngày 27/3/2024, có một người phụ nữ (sau này tôi biết tên là Bùi Thị D) đến bán cho tôi chiếc điện thoại Iphone 11 pro màu đen, có ốp lưng hình doremon, khi bán D nói là điện thoại nhặt được và muốn bán với giá 2.000.000đ nhưng tôi bảo điện thoại không mở được mật khẩu thì chỉ bán lấy linh kiện thôi nên tôi chỉ mua với giá 1.800.000đ thì D đồng ý. Quá trình điều tra tôi đã giao nộp chiếc điện thoại Iphone 11 pro màu đen cùng ốp lưng hình doremon tôi đã mua của D cho Cơ quan điều tra để phục vụ giải quyết vụ án. Đến nay tôi không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho tôi khoản nào. Tôi giữ nguyên lời khai tại giai đoạn điều tra và xin vắng mặt tại phiên toà.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn khách quan nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận, vì đã phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 6 giờ ngày 27/3/2024, tại phòng ngủ nhân viên nhà hàng C ở TDP V, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Thị D đã thực hiện hành vi trộm cắp của chị Thào Thị B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro dung lượng 64Gb bản quốc tế định giá trị là 5.833.000đ, 01 ốp lưng điện thoại Iphone 11Pro

4

bằng nhựa có hình doremon màu đen, trắng, đỏ, xanh giá trị là 15.000đ và 1.000.000đ để trong ốp lưng điện thoại, tổng giá trị tài sản là 6.848.000đ, mục đích để chi tiêu cá nhân. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Nội dung điều luật như sau:

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, trong vụ án này là chị Thào Thị B, hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý nghiêm minh.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.

[5]. Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6]. Xét nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử về tội “Cướp tài sản” bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân tốt nên đây là tình tiết nhân thân cần xem xét khi lượng hình.

[7]. Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, hiểu rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên vẫn cố tình thực hiện, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội Cướp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội, nên cần phải xử lý nghiêm minh mới bản đảm tính răn đe pháp luật và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù và buộc cách ly bị cáo khỏi xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm, không có nhu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9]. Về trách nhiệm dân sự:

+ Bị hại chị Thào Thị B đã nhận lại tài sản là điện thoại và ốp điện thoại và xác định không thiệt hại.

+ Về số tiền 1.000.000 đ (để sau ốp lưng điện thoại) chị Ba k yêu cầu bị cáo bồi thường.

5

+ Anh Lưu Quang V là người đã giao dịch mua chiếc điện thoại của bị cáo với giá 1.800.000 đ, anh V không yêu cầu bị cáo bồi thường

Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về dân sự.

[10]. Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

[11]. Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 11 pro dung lượng 46 GB bản quốc tế màu đen (đã qua sử dụng) và 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa có hình doremon màu đen trắng đỏ xanh của chị Thào Thị B, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị B quản lý, sử dụng là có căn cứ, chị B xác định điện thoại khi bị cáo trộm cắp không bị hỏng, chị Ba không ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

[13]. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[14]. Liên quan trong vụ án có anh Lưu Quang V là người đã mua chiếc điện thoại di động do Bùi Thị D trộm cắp nhưng khi giao dịch mua bán anh V Không biết đó là tài sản do bị cáo D phạm tội mà có, khi giao dịch mua bán giữa bị cáo D và anh V, bị cáo D khai nhận điện thoại do bị cáo nhặt được nên không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với anh V là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sư năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các Điều 136, 299, 329, 331 nvaf Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

*/ Tuyên bố bị cáo Bùi Thị D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

*/ Xử phạt bị cáo Bùi Thị D: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 11/4/2024.

Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo D 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

*/ Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Thị D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

Án xét xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, bị hại, báo cho biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lưu Quang V (vắng mặt) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.

6

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Sông Công;

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Sông Công ;
  • - Chi cục THADS TP Sông Công;
  • - Thi hành án hình sự (02b);
  • - Bị cáo; Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - Th.báo KQXX cho UBND (Nơi bị cáo đăng ký HKTT kèm bản án);
  • - Lưu hồ sơ, VT.

Đào Ngọc Hài

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sư năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các Điều 136, 299, 329, 331 nvaf Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger