|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22/8/2024 Về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồng Thông và ông Hoàng Công Hải
Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Cao Thị Vân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự, thụ lý số: 102/2024/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 03 năm 2024 về: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QÐST - HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1992
Nơi cư trú: khối D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Hoàng Trung T, sinh năm 1989
Nơi cư trú: khối D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 03 năm 2024, được bổ sung tại bản tự khai ngày 10 tháng 4 năm 2024, nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày: chị và anh Hoàng Trung T kết hôn với nhau vào ngày 06/5/2016, hôn nhân trên cơ sở tình yêu, hoàn toàn tự nguyện, có đăng kí kết hôn tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Sau ngày kết hôn hai vợ chồng sống với nhau bình thường, hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn cao điểm vào tháng 11/2023 nguyên nhân là do không hợp tính cách, bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích va chạm và thiếu sự tôn trọng lẫn nhau. Mặc dù hai bên đã nhiều lần cố gắng để hòa giải nhưng tình trạng hôn nhân không cải thiện được, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 11/2023. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị quyết định làm thủ tục đề nghị Toà án nhân dân huyện Diễn Châu giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Trung T.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Hoàng Trung Q, sinh ngày 16/04/2017, hiện nay cháu Q đang ở với chị L. Ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Hoàng Trung Q cho đến khi trưởng thành. Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung và nợ: Chị Trần Thị L không yêu cầu Toà án giải quyết.
Chị Trần Thị L đã có đơn đề nghị tòa án không tiến hành hòa giải và có đơn xin xét xử vắng mặt do điều kiện tình hình của chị phải làm việc trong giờ hành chính nên gặp khó khăn trong việc xin nghỉ để đến Tòa án làm việc nhiều lần, chị đề nghị Tòa án tiến hành các thủ tục để giải quyết vụ án theo quy định.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện Diễn Châu đã tiến hành thông báo qua điện thoại, tống đạt cho anh Hoàng Trung T các văn bản tố tụng nhưng anh Thanh vắng m tại các phiên hòa giải. Qua xác minh tại Công an thị trấn D thì anh Hoàng Trung T có đăng kí hộ khẩu thường trú, hiện cư trú và sinh sống tại khối D, thị trấn D. Do đó, tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh Hoàng Trung T theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; Tòa án mở phiên tòa đúng thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn anh Hoàng Trung T đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định tại điều 227, điều 228, điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án đề nghị Toà án áp dụng các điều điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giải quyết cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Hoàng Trung T; về con chung: giao con chung Hoàng Trung Q, sinh ngày 16/04/2017 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành; việc cấp dưỡng do đương sự không yêu cầu nên không xem xét; Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết; án phí: chị Trần Thị L phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 điều 28 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Bị đơn anh Hoàng Trung T có đăng ký hộ khẩu tại thị trấn D, huyện D nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 BLTTDS. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết, xác minh tại nơi đăng kí hộ khẩu thường trú đối với anh Hoàng Trung T và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Chị Trần Thị L đã thông báo đến anh T toàn bộ nội dung khởi kiện, anh T biết rõ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa; nguyên đơn chị Trần Thị L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ vào các điều 70, điều 207, điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1, 3 điều 228, điều 238 BLTTDS 2015; điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao để giải quyết và xét xử vắng mặt Trần Thị L và anh Hoàng Trung T.
[2]. Xét về quan hệ hôn nhân thấy rằng: Hôn nhân giữa chị Trần Thị L và anh Hoàng Trung T là hoàn toàn hợp pháp, việc đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau một thời gian ngắn chung sống hạnh phúc giữa chị L và anh T đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, tính cách, thiếu sự hòa hợp nên dẫn đến tình cảm phai nhạt. Quá trình làm việc tại Tòa án, chị L cũng xác định không còn tình cảm gì với anh T nữa, hiện nay đã sống ly thân nhau, không có khả năng đoàn tụ với nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Riêng anh T, sau khi được thông báo toàn bộ nội dung khởi kiện của chị L về việc ly hôn nhưng không có bất cứ văn bản nào phản hồi về cho tòa án nêu rõ ý kiến. Điều đó chứng tỏ rằng mối quan hệ giữa chị L và anh T đã thực sự rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt được, bởi vậy cần áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết cho chị Trần Thị L được ly hôn với anh Hoàng Trung T.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Hoàng Trung Q, sinh ngày 16/04/2017, hiện nay cháu Q đang ở với chị L, xét chị L có địa chỉ cư trú rõ ràng, có công việc và thu nhập ổn định đủ các điều kiện cơ sở vật chất để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Căn cứ các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp, điều kiện nuôi con thực tế cũng như xét nguyện vọng của đương sự, ý kiến của con chung, Hội đồng ét xử nhận thấy cần áp dụng các điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên giao Hoàng Trung Quân, sinh ngày 16/04/2017 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành là phù hợp. Do chị Trần Thị L không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Hoàng Trung T. Về tài sản chung: không yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Án phí: Chị Trần Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, các điều 35, 39, 147, khoản 1; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56; điều 57, điều 58, điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Tuyên xử:
- Quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị L được ly hôn anh Hoàng Trung T.
- Về con chung: Giao con chung Hoàng Trung Q, sinh ngày 16/04/2017 cho chị Trần Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối anh Hoàng Trung T.
- Về tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Hoàng Trung T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
4. Án phí: Chị Trần Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, án phí của chị L được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0011331 ngày 27/03/2024.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị L và anh Hoàng Trung Thanh vắng m1 được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Danh Hùng |
Bản án số 62/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 62/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án
