Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 62/2023/HS-ST

Ngày: 21 - 11 -2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuấn.

Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Khải.

Ông Nguyễn Đắc Thắng.

Bà Nguyễn Thị Đấu.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Mai Hùng Nhân – Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN O, sinh ngày 02/02/1966 tại tỉnh Long An;

  • - Đăng ký thường trú: số B ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
  • - Chỗ ở hiện nay: ấp L, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang;
  • - Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 07/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài;
  • - Con ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị N;
  • - Vợ: không; sống chung với Hồ Thị Thu T (không đăng ký kết hôn) và có 04 con.

Đặc điểm nhân thân:

  • - Từ nhỏ đến năm 2002, sinh sống cùng gia đình tại ấp Đ, xã L, huyện C, tỉnh Long An, bằng nghề làm tài xế lái xe cẩu.
  • Từ năm 2003 làm nghề lái xe cẩu tại ấp L, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang cho đến ngày phạm tội.
  • - Tiền án, tiền sự: không.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn O bị tạm giữ ngày 26/5/2023, chuyển tạm giam ngày 04/6/2023.
  • - Bị cáo có mặt tại tòa.
  • * Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Văn T1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (Có mặt).
  • * Bị hại: Hồ Thị Thu T ; sinh năm 1978 (có mặt);
  • Địa chỉ: ấp L, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
  • * Người làm chứng:
  • - Hồ Thị Mộng T2, sinh năm 2004 (có mặt);
  • Địa chỉ: ấp L, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang
  • - Hồ Ngọc H, sinh năm 2001(có mặt);
  • Địa chỉ: số B, ấp T, xã T, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn O cùng bà Hồ Thị Thu T sống chung như vợ chồng tại nhà bà T ở ấp L, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Trong quá trình chung sống, O nghi ngờ bà T có quan hệ nam nữ với người khác nên ghen tuông, nhiều lần đe dọa dùng điện giết chết bà T. Vào khoảng 19 giờ ngày 23/5/2023, O yêu cầu được ngủ chung, nhưng bà T từ chối nên tức giận và nảy sinh ý định giết chết bà T. Thực hiện ý định, O đóng cửa rào, đóng cửa nhà sau, rồi đi đến kệ bếp có giỏ xách đựng dụng cụ điện lấy 01 (một) dây dẫn điện đôi (màu đỏ, dài 3,23m, một đầu gắn phích cắm hai chấu tròn màu trắng, đầu dây còn lại gắn băng keo màu đen dài 17cm, phần hai dây tách ra vỏ màu trắng dài 3,5 cm, lộ rõ lõi đồng dài 0.9 cm mỗi bên). Sau đó, dùng phích điện cắm vào ổ điện đang có điện chỗ gần võng bà T nằm. O dùng tay phải cầm phần dây điện có lõi đồng dí vào cổ bên phải của bà T, bị điện giật, bà T bỏ chạy thì bị O dùng tay trái nắm tóc giật lại và tiếp tục dùng dây điện dí vào sau gáy. Lúc này bà T sợ hãi nên van xin O tha, hứa hẹn sẽ sống chung nên O ngừng lại.

Đến khoảng 20 giờ 30 cùng ngày, chị Hồ Thị Mộng T2, sinh năm 2004, là con gái của bà T về nhà, nhìn thấy bà T đang nằm trên võng, trên cổ có vết bỏng nên cùng O đưa đi Bệnh viện Đ chữa trị.

Đến sáng ngày 26/5/2023, O đến Công an xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Biên bản khám nghiệm hiện trường lập lúc 13 giờ 30 phút 26 ngày 5 năm 2023 ghi nhận: Hiện trường nơi xảy ra sự việc tại nhà bà Hồ Thị Thu T, sinh năm 1978, tọa lạc ấp L, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang có các hướng tiếp giáp xác định như sau:

Hướng Nam tiếp giáp với ruộng lúa bà Phan Thị S, kế tiếp là đường xi măng rộng trung bình 02m; H – Tây đường bảng vàng ấp L. Hướng Bắc tiếp giáp vườn và ruộng lúa. Hướng Đông tiếp giáp nhà bà Phan Thị S. Hướng Tây tiếp giáp với nhà dân.

Nhà bà Hồ Thị Thu T được xây cất kiên cố với tường gạch, nền gạch, mái tole, cột xi măng, kèo sắt, trần lót la phong. Cửa chính nhà quay về hướng N, kích thước 02 m 15 x 2m 1 loại cửa kim loại gắn kính gồm 04 cánh mở ngoài. Nhà được chia thành cấu trúc gồm:

Phần nhà trước gồm: hành lang, phòng khách, 02 phòng ngủ, tổng diện tích là (5x10) m, hướng Đông khu vực nhà trước là mái che nhà tiền chế, nền lát gạch diện tích (1,8x10) m.

Phần nhà sau diện tích (5,8x6,8) m. Từ mái che vào nhà sau bằng cửa hông loại cửa nhôm gắn kính, kích thước (2m2x1m6), cửa hai cánh mở ngoài. Nhà được chia thành cấu trúc gồm:

Phần nhà trước gồm: hành lang, phòng khách, 02 phòng ngủ, tổng diện tích là (5x10)m. Hướng Đông khu vực nhà trước là mái che tiền chế, nền lát gạch diện tích (1,8x10)m.

Phần nhà sau diện tích (5,8x6,8)m. Từ mái che tiền chế vào nhà sau bằng cửa hông loại cửa nhôm gắn kính, kích thước (2m2x1m6), cửa hai cánh mở ngoài. Từ vị trí cửa này đi về hướng Bắc 3,3m thấy trên tường hướng Đông, ở độ cao cách nền 1m68 là một bản điện gắn tường, kích thước (15,5x12,5)cm, màu trắng. Trên bảng điện gắn một ổ điện cấm 03 đầu cấm (06 lổ), một cầu chì, hai công tắc điện, ký hiệu số 01. Tiếp theo tại vị trí trên nền gạch, cách tường về hướng Đông 1,7m; cách cửa hông về hướng N 1,36m là một cái võng khung gỗ, võng quay hướng B, khung võng có đế kích thước (1,68mx0,86)m, cao 87cm, khoảng cách giữa hai đầu mắc võng là 2,44m, trên khung võng có mắc 01 lưới võng bằng vải, màu xanh dương, ký hiệu số 02. Kế tiếp võng số 02 về hướng Bắc 40 cm trên nền gạch là một ổ điện cắm rời hiệu LIOA, kích thước (21,1 x 3,5 x4,5)cm, có vỏ nhựa màu đen, gồm 04 đầu cắm điện (08 lổ) và 01 công tắc điện, phần nhựa tại 04 đầu cắm màu xanh lá, xanh dương, vàng và đỏ. Ô cắm điện cách tường về hướng Đông 1,95m, ký hiệu số 03. Ổ cắm điện gắn liền với phần dây dẫn có vỏ bọc màu đen dài 3,33m, dính liền với phần phích cắm hai đầu trò, phần phích cắm vào ổ điện vị trí số 01. Khu vực bếp được xây dựng tường kiên cố, diện tích (3x2,2)m. Cặp tường hướng Tây và hướng Bắc, gốc T là một kệ bếp, hình L, kích thước (1,5x1,2x0,8)m, dưới kệ có khoảng rỗng chứa đồ. Phát hiện dưới kệ vị trí cách tường, hướng Tây 0,5m, cách tường hướng Bắc 0,9m phát hiện một dây dẫn điện đôi vỏ màu đỏ quấn gọn lại. Cách võng số 02 về hướng Đông Nam 4,4 m – ký hiệu số 04. Dây dẫn điện đôi dài 3,23m, một đầu gắn phích cắm hai chấu tròn màu trắng, đầu dây còn lại gắn băng keo màu đen dài 17cm, phần hai dây tách ra vỏ màu trắng dài 3,5cm, lộ rõ lõi đồng dài 0.9 cm mỗi bên.

Công văn số 243/ĐLTXGC-KHKT ngày 02/6/2023 của Điện lực Thị xã G, tỉnh Tiền Giang về việc xác định điện áp theo Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã G, ghi nhận nguồn điện tại nhà bà Hồ Thị Thu T tọa lạc ấp L, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang vào lúc 13 giờ 30 phút, ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại các vị trí có liên quan như sau: (vị trí số 2 trong biên bản khám nghiệm hiện trường không liên quan đến nguồn điện)

  • + Vị trí thứ nhất: (Tường nhà) điện áp xoay chiều đo giữa dây pha - dây trung hòa tại ổ cắm trên bảng điện ở tường là 233V.
  • + Vị trí thứ ba: (Ổ cắm rời) sau khi cắm chuôi vào ổ điện trên tường, kiểm tra dây dẫn điện tốt và đo điện áp xoay chiều giữa dây pha – dây trung hòa tại đầu cuối của dây là 232V.
  • + Vị trí thứ tư: (Dây điện đôi) sau khi cắm chuôi vào ổ điện trên nền gạch, kiểm tra dây dẫn tốt và đo điện áp xoay chiều giữa dây pha – dây trung hòa tại đầu cuối của dây là 233,2V.

Căn cứ vào tài liệu quy định, quy trình ATÐ (an toàn điện) ban hành kèm theo Quyết định 959/QĐ-EVN ngày 26 tháng 7 năm 2021 của Tổng Giám đốc Tập Đoàn Đ1 thì trong điều kiện bình thường con người tiếp xúc trực tiếp với điện áp xoay chiều trên 42V là nguy hiểm đến tính mạng.

Tuy nhiên, việc một người bị điện giật có ảnh hưởng đến tính mạng hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Cường độ dòng điện qua người, thời gian dòng điện qua người, vị trí tiếp xúc, điện trở của cơ thể người tiếp xúc,...

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 199-2023/KLTTCT-TTPY ngày 30/5/2023 của Trung tâm P – Sở Y tế tỉnh T, kết luận:

  1. Các kết quả chính:
    • - Kết quả khám giám định:
    • + Vết bỏng da độ III từ trước cổ phải đến đầu trong xương đòn phải. Gây rối loạn sắc tố da ảnh hưởng thẩm mỹ.
    • + Vết bỏng da vùng cổ sau độ III. Gây rối loạn sắc tố da ảnh hưởng thẩm mỹ.
  2. Kết luận:
    • - Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Hồ Thị Thu T là: 08% (T3 phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư.
    • - Kết luận khác:
    • + Xác định vật gây thương tích: Thương tích Hồ Thị Thu T bỏng do điện gây nên.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) ổ điện cắm rời hiệu LIOA, kích thước (21,1 x 3,5 x4,5)cm, có vỏ nhựa màu đen, gồm 04 đầu cắm điện (08 lổ) và 01 công tắc điện, phần nhựa tại 04 đầu cắm màu xanh lá, xanh dương, vàng và đỏ; ổ cắm điện gắn liền với phần dây dẫn có vỏ bọc màu đen dài 3,33m dính liền với phần phích cắm hai chấu tròn.
  • - 01 (một) dây dẫn điện đôi (màu đỏ, dài 3,23m, có một đầu gắn phích cắm hai chấu tròn màu trắng, đầu dây còn lại gắn băng keo màu đen dài 17cm, phần hai dây tách ra vỏ màu trắng dài 3,5 cm, lộ rõ lõi đồng dài 0,9 cm mỗi bên).
  • - 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng màu xanh, phía sau có dòng chữ S1, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn O.
  • - 03 (ba) tờ giấy A4 có nội dung tin nhắn zalo được đánh số thứ tự từ 01 đến 03 có thể hiện chữ ký, chữ viết họ tên Hồ Thị Thu T (bản pho to).

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hồ Thị Thu T không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKSTG-P2 ngày 04 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn O về tội “Giết người” qui định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn O khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố đối với bị cáo và có ý kiến xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa có ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn O. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo O từ 08 đến 09 năm tù về tội “Giết người” và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
  • - Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến thống nhất về tội danh, tình tiết tăng nặng định khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Luật sư phân tích nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, hậu quả thực tế đã xảy ra và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Bị hại Hồ Thị Thu T có ý kiến xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Xét các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố Tụng hình sự. Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
  2. Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn O tại phiên tòa phù hợp với vật chứng thu giữ, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở xác định: Do nghi ngờ bị hại Hồ Thị Thu T có quan hệ nam nữ với người khác nên vào khoảng 19 giờ 00 ngày 23/5/2023, bị cáo đã sử dụng dây dẫn cắm vào nguồn điện sinh hoạt dí vào cổ và gáy của chị T. Hậu quả, chị T bị bỏng điện với tỷ lệ thương tật là 08%.
  3. Về ý thức chủ quan bị cáo nhận thức được rằng, mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe và tính mạng, mọi hành vi trái pháp luật gây tổn hại đến sức khỏe hoặc tước đoạt tính mạng của người khác sẽ bị xử phạt nghiêm khắc. Nhận thức được điều đó thì lẽ ra bị cáo phải tự biết kiềm chế bản thân, tìm biện pháp phù hợp với đạo đức của cuộc sống, quy định của pháp luật để hoà giải mâu thuẫn với bị hại một cách ôn hòa. Thế nhưng, bị cáo lại sử dụng dòng điện áp 220V dí vào người của bị hại nhiều lần, chỉ đến khi bị hại van xin, hứa hẹn thì bị cáo mới dừng lại.
  4. Xét bị cáo đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, nhưng hành vi thực tế bị cáo đã thực hiện, đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị xét xử bị cáo về tội “Giết người” với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “Có tính chất côn đồ”, theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
  5. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm khắc, có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã chủ động đến Công an đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại chỉ bị tổn thương sức khỏe 8% và có ý kiến bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì thế, luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của luật sư bào chữa đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp nên chấp nhận.
  6. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hồ Thị Thu T có ý kiến không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  7. Về xử lý vật chứng: Vật chứng đang tạm giữ là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn O phạm tội “Giết người”

  1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 57 Bộ luật Hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn O 12 (mười hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  4. Tịch thu tiêu huỷ:

    • - 01 (một) ổ điện cắm rời hiệu LIOA, kích thước (21,1 x 3,5 x 4,5)cm, có vỏ nhựa màu đen, gồm 04 đầu cắm điện (08 lỗ) và 01 công tắc điện; phần nhựa tại 04 đầu cắm màu xanh lá, xanh dương, vàng và đỏ; ổ căm điện gắn liền với phần dây dẫn có vỏ bọc màu đen dài 3,33m, dính liền với phần phích cắm 2 chấu tròn.
    • - 01 (một) dây dẫn điện đôi (màu đỏ dài 3,23m, có một đầu gắn phích cắm hai chấu tròn màu trắng, đầu dây còn lại gắn gắn băng keo màu đen dài 17cm, phần hai dây tách ra vỏ màu trắng dài 3,5cm lộ rõ lõi đồng dài 0,9 mỗi bên).
    • - 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xanh, phía sau có dòng chữ S1, số imei:356418112118504, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra bên trong.
  5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  6. Bị cáo O phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TG;
  • - Phòng hồ sơ CA tỉnh TG;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh TG;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh TG;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh TG;
  • - Sở tư pháp tỉnh TG;
  • - Phòng KTNV và THA (TAT);
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Tuấn

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về giết người (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 62/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do nghi ngờ bị hại Hồ Thị Thu T có quan hệ nam nữ với người khác nên vào khoảng 19 giờ 00 ngày 23/5/2023, bị cáo đã sử dụng dây dẫn cắm vào nguồn điện sinh hoạt dí vào cổ và gáy của chị T. Hậu quả, chị T bị bỏng điện với tỷ lệ thương tật là 08%.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger