TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 62/2024/HS-PT Ngày 21-8-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành.
Các thẩm phán: - Ông Vũ Duy Luân
- Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn L do có kháng cáo của bị cáo và bị đơn dân sự đối với bản án hình sự sơ thẩm số 183/2023/HS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
* Bị cáo kháng cáo: Trần Văn L, sinh năm 1991, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1958 và bà Bùi Thị É, sinh năm 1962; Có vợ là Đoàn Thị Thanh X, sinh năm 1992 và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 16/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã chấp hành xong.
Ngày 26/4/2024, bị cáo đi chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 20/2023/QĐ-TA ngày 02/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tại Cở sở Cai nghiện ma túy công lập tỉnh Thái Bình - địa chỉ: Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
* Bị hại: Anh Trần Công H, sinh năm 1983
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Đỗ Thị Huyền T, sinh năm 1987
Đều trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
* Bị đơn dân sự: Công ty TNHH V
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Đình H1 - Giám đốc.
(Có mặt: ông H1; Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt; Vắng mặt anh H, chị T)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 05 phút, ngày 16/12/2022 bị cáo Trần Văn L (có giấy phép lái xe hạng FC) là lái xe thuê cho Công ty TNHH V, điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 17H-016.55 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 17R-010.85 chở gạch men đi trên đường Đ, hướng từ xã T đi xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Khi đến khu vực ngã ba, đường giao nhau, thuộc địa phận thôn Đ, xã T, bị cáo điều khiển xe ô tô chuyển hướng, rẽ trái đi vào đường QL37B. Khi chuyển hướng, bị cáo không chú ý quan sát để đảm bảo an toàn cho người và phương tiện đi ở phần đường phía ngược chiều nên xe ô tô đầu kéo đã đâm vào phần đầu xe mô tô biển kiểm soát 90B1-630.99 do anh Trần Công H điều khiển, đi bên phải đường, phía ngược chiều với xe ô tô đầu kéo. Hậu quả, anh Trần Công H bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T sau đó chuyển đến Bệnh viện H2.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 125/KLTTCT-TTPY ngày 09/4/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận: “Hiện tại bệnh nhân lơ mơ, tiếp xúc chậm, không nói được, liệt mức độ nhẹ nửa người bên trái, vệ sinh không tự chủ. Hiện tại bệnh nhân còn đang điều trị tại Bệnh viện phục hồi chức năng nên chưa đánh giá hết di chứng của các tổn thương. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Công H tại thời điểm giám định là 79%”.
Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 326/KLTTCT-TTPY ngày 16/8/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y, kết luận: “Toàn bộ các tổn thương được mô tả đã cho tỷ lệ theo kết luận số 125/KLTT-TTPY ngày 09/4/2023. Nạn nhân không đi khám chuyên khoa Chẩn đoán hình ảnh để đánh giá cụ thể kích thước đường vỡ xương sọ và đường kính các ổ tổn thương não. Nạn nhân không đi khám chuyên khoa Thần kinh để đánh giá cụ thể mức độ liệt nên không có căn cứ bổ sung tỷ lệ tổn thương cơ thể cho anh Trần Công H”
Bản án hình sự sơ thẩm số 183/2023/HS-ST ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 5 Điều 260, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn L 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án. Cấm bị cáo Trần Văn L hành nghề lái xe ô tô hạng FC trong thời hạn 01 năm 06 tháng, tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 590, 597 Bộ luật Dân sự: Buộc Công ty TNHH V phải bồi thường tiếp cho anh Trần Công H số tiền là 230.000.000 đồng. Công ty TNHH V có quyền khởi kiện đối với bị cáo Trần Văn L về việc trả tiền bồi thường trong vụ án dân sự khác.
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án, án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại và bị đơn dân sự.
Ngày 25/12/2023, bị cáo Trần Văn L kháng cáo xin giảm hình phạt.
Ngày 21/12/2023, ông Trương Đình H1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH V kháng cáo đề nghị buộc lái xe có trách nhiệm bồi thường cho bị hại.
Ngày 07/8/2024, bị cáo Trần Văn L có đơn xin rút kháng cáo.
Tại phiên toà:
- Đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH V trình bày: Công ty TNHH V đã có văn bản giao xe cho lái xe Trần Văn L. Khi tham gia giao thông bị hại anh Trần Công H điều khiển xe mô tô trong tình trạng say rượu và đâm về phía bên trái xe ô tô, do đó anh H có một phần lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xác định tỷ lệ phần trăm lỗi của bị cáo và bị hại để quyết định số tiền bồi thường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo và bị đơn dân sự, đơn xin rút kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Trần Văn L.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 183/2023/HS-ST ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Công ty TNHH V vẫn giữ nguyên kháng cáo và không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Văn L và bị đơn dân sự có đơn kháng cáo đảm bảo về thủ tục và thời hạn kháng cáo. Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy không ra Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí đối với kháng cáo của bị đơn dân sự là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 22 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuy nhiên để đảm bảo quyền lợi cho bị đơn dân sự, kháng cáo của bị cáo và bị đơn dân sự được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Về án phí phúc thẩm sẽ được xem xét theo quy định của pháp luật.
[2] Ngày 07/8/2024, bị cáo Trần Văn L rút toàn bộ kháng cáo, việc rút kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật. Vì vậy, căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Văn L.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn dân sự thấy:
[3.1] Bị cáo là lái xe thuê của công ty V, được giao điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 17H-016.55 kéo theo sơ mi rơ mooc BKS 17R-010.85 chở gạch men, bị cáo đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng một cách an toàn, không nhường đường cho xe đi ngược chiều nên đã gây tai nạn với xe của anh Trần Công H, hậu quả anh Trần Công H bị tổn thương cơ thể 79%. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Bị hại khi tham gia giao thông có lỗi là điều khiển xe mô tô trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu nên bản án sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[3.2] Bị hại yêu cầu Công ty TNHH V bồi thường tổng số tiền 230.000.000 đồng, Công ty TNHH V kháng cáo về việc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Công ty V không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại. Xét thấy, căn cứ khoản 3 Điều 584 Bộ luật Dân sự, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: “Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”. Điều 597 Bộ luật dân sự quy định về Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra: “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”. Do đó, bản án sơ thẩm quyết định buộc Công ty TNHH V phải bồi thường tiếp cho anh Trần Công H số tiền 230.000.000 đồng. Công ty V có quyền khởi kiện đối với bị cáo L về việc trả tiền bồi thường trong vụ án dân sự khác là có căn cứ.
[3.3] Bị hại kháng cáo đề nghị tính tỷ lệ phần trăm lỗi của bị hại để giảm số tiền bồi thường thiệt hại. Xét thấy, hành vi của bị cáo là có lỗi không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng một cách an toàn, không nhường đường cho xe đi ngược chiều nên đã gây tai nạn với xe của anh Trần Công H dẫn đến việc anh H bị tổn thương cơ thể là 79%, bị hại khi tham gia giao thông trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu nên bị cáo đã được xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại là thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Do đó, bản án sơ thẩm tuyên bố buộc Công ty TNHH V phải bồi thường số tiền 230.000.000 đồng, bao gồm: Tiền công lao động của anh H và chị T bị mất 12 tháng là 144.000.000 đồng, tiền thuộc chữa trị và viện phí có hóa đơn là 107.000.000 đồng, tiền thuê xe ô tô khám chữa bệnh 11.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 18.000.000 đồng (bị cáo đã tác động cho Công ty TNHH V bồi thường 50.000.000 đồng) là có căn cứ.
[4] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Về án phí: Do bị cáo rút kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của bị đơn dân xự không được chấp nhận nên Công ty V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Trần Văn L, bản án hình sự sơ thẩm số 183/2023/HSST ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình có hiệu lực pháp luật đối với hình phạt của bị cáo Trần Văn L.
- Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 590, 597 Bộ luật Dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH V, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự: Buộc Công ty TNHH V phải bồi thường tiếp cho anh Trần Công H số tiền là 230.000.000 đồng. Công ty TNHH V có quyền khởi kiện đối với bị cáo Trần Văn L về việc trả tiền bồi thường trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm e, g khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Công ty TNHH V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án phúc thẩm./.
Nơi nhân:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOA PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Ngọc Thành |
Bản án số 62/2024/HS-PT ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự
- Số bản án: 62/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo rút kháng cáo, không chấp nhận kháng cáo của bị hại
