Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 62/2023/HNGĐ-ST

Ngày 21-8-2023

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đào Khel
  2. Ông Dư Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Ngọc Hân – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 89/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lý Thị H, sinh năm 1986 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

  3. Bị đơn: Ông Dương Minh H1, sinh năm 1972 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Số A đường C, khóm E, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 3 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Lý Thị H trình bày:

Bà Lý Thị H và ông Dương Minh H1 tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2010, đăng ký kết hôn trễ hạn được UBND phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 14/2020, ngày 13/02/2020. Qua thời gian chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm, không có sự quan tâm chia sẽ, ông H1 thường xuyên đi chơi thâu đêm mà không quan tâm đến vợ con, thường hay vô cớ gây chuyện với bà H. Vào tháng 12/2022 sau một trận cãi nhau, bà H đã về nhà mẹ ruột tại ấp A, xã A, huyên C, tỉnh Sóc Trăng sinh sống và đã sống ly thân với ông H1 cho đến nay. Trong thời gian chung sống, bà H và ông H1 có một người con chung là : Cháu Lý Ngọc T, (nam, sinh ngày 01/9/2012). Trong thời kỳ hôn nhân bà H và ông H1 không có tạo lập được tài sản chung và cũng không có nợ chung.

Nay bà Lý Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Dương Minh H1.

Về con chung: Bà H yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng người con chung là cháu Lý Ngọc T, (nam, sinh ngày 01/9/2012), đến khi cháu T đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Bị đơn ông Dương Minh H1 từ khi tòa án thụ lý vụ án đến nay đều vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến gì.

- Ý kiến của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tại phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt không thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa bị đơn ông Dương Minh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn H1.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị H, về quan hệ hôn nhân của bà Lý Thị H và ông Dương Minh H1 không vi phạm các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu H và ông H1 chung sống hạnh phúc. Qua thời gian chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm, không có sự quan tâm chia sẽ, ông H1 thường xuyên đi chơi thâu đêm mà không quan tâm đến vợ con, thường hay vô cớ gây chuyện với bà H. Vào tháng 12/2022 sau một trận cãi nhau, bà H đã về nhà mẹ ruột tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng sinh sống và đã sống ly thân với ông H1 cho đến nay. Tại tòa bà H xác định không còn tình cảm với ông H1 mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không còn khả năng hàn gắn, cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc và kiên quyết xin ly hôn với ông H1. Đồng thời, từ năm 2022 đến nay bà H và ông H1 đã sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nhận thấy, tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông H1.

[3] Về con chung: Bà H yêu cầu được nuôi dưỡng người con chung tên Lý Ngọc T, (nam, sinh ngày 01/9/2012) đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Xét thấy, cháu T từ khi sinh ra đến năm 2022 đều do bà H và ông H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Từ năm 2022 đến nay bà H và ông H1 không còn sống chung với nhau, cháu T được bà H chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại biên bản ghi nhận ý kiến cháu T, cháu T có nguyện vọng được sống chung với bà H. Xuất phát từ mọi lợi ích của cháu T, tránh xáo trộn môi trường sống ảnh hưởng đến tâm lý của cháu T. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H giao cháu T cho bà H được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông H1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Thị Hồng t khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Như đã phân tích nêu trên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở chấp nhận.

[7] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lý Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lý Thị H và ông Dương Minh H1.
  2. Về con chung và cấp dưỡng:

    2.2. Giao con chung tên Lý Ngọc T (nam, sinh ngày 01/09/2012) hiện đang sống chung với bà H cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Ông H1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

    Ông Dương Minh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Thị Hồng t khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lý Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007734 ngày 24/4/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; bà Lý Thị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

    Ông Dương Minh H1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  5. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSNDTPST;
  • - Chi cục THADSTPST;
  • - Ủy ban nhân dân phường 5, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bích Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 62/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BAN AN LY THI H -DUONG MINH H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger