TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG Bản án số: 62/2025/HS-ST Ngày 19-11-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên và bà Phan Hoàng Mai.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Phan Ý Vy - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang tham gia phiên toà: Ông Kiều Văn Liêu - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 53/2025/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Thái B, sinh ngày 25/5/1997 tại tỉnh Sóc Trăng (nay là thành phố Cần Thơ); nơi thường trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp A, xã C, thành phố Cần Thơ); nơi ở hiện tại: số E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là số E, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: công giáo; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch H và bà Lê Thị T; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02 tháng 5 năm 2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực L (nay là P trại tạm giam Chợ M - thuộc Trại Tạm giam số 01 Công an tỉnh A). (có mặt)
Bị hại: Phạm Minh G, sinh năm 2000. (Có mặt)
Cư trú: Ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 01 năm 2025, Lê Thái B thấy anh Phạm Minh G đăng hình ảnh cá nhân của Trần Thị Kim P1 (bạn gái B) lên mạng xã hội Facebook, nên B ghen tuông, nhắn tin chửi G.
Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 27 tháng 01 năm 2025, anh G nhắn tin hẹn B đến quán cà phê “Kênh Đào”, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang để nói chuyện, thì B điều khiển xe mô tô biển số 67B1 - 588.02 mang theo 01 cây dao tự chế (bằng kim loại màu trắng dài 50 cm cán ốp gỗ, chiều dài lưỡi dao 36,5 cm, 01 bề lưỡi dao và 01 bề sống dao, mũi dao bầu nơi rộng nhất 5,5 cm, nơi hẹp nhất 3,6 cm), 01 cây dao xếp và 01 cây chỉa đến quán. Đến nơi, B lấy cây dao giấu vào áo khoác, đi vào quán nói chuyện với G, thì xảy ra cự cãi. B dùng tay phải lấy cây dao chém 01 cái trúng vào khuỷu tay trái G, giằng co đến trước quán, B tiếp tục chém 01 cái trúng vào vai trái của G. Lúc này, P1 và người dân quanh đến can ngăn nên B bỏ đi, còn G được đưa đến Bệnh viện Đ tại phường L, tỉnh Vĩnh Long nhập viện, điều trị. Đến ngày 29 tháng 01 năm 2025, G xuất viện.
* Vật chứng thu giữ:
- - Cây dao bằng kim loại màu trắng dài 50 cm cán ốp gỗ, chiều dài lưỡi dao 36,5 cm, 01 bề lưỡi dao và 01 bề sống dao, mũi dao bầu nơi rộng nhất 5,5 cm, nơi hẹp nhất 3,6 cm;
- - Cây dao xếp bằng kim loại được sơn màu đen dài 22 cm, lưỡi dao dài 9,5 cm, rộng 2 cm, mũi dao nhọn, 01 bề lưỡi dao và 01 bề sống dao;
- - Cây chỉa bằng kim loại màu trắng dài 300 cm được xếp thành đoạn, mỗi đoạn dài 100 cm, đầu mũi chỉa được gắn 3 thanh kim loại mũi mài nhọn chiều dài mỗi thanh 16 cm.
* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 122/25/KLTTCT-TTPY, ngày 07 tháng 3 năm 2025 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh A:
- Các kết quả chính:
- - Sẹo bả vai trái đến mặt ngoài 1/3 trên cánh tay trái, kích thước (10.3 x 0.5) cm, sẹo hồng, lồi, bờ sắc, tỷ lệ 02%. Gây đứt cơ Delta, thấu khớp vai, rạn xương mỏm cùng vai, hiện tại gây hạn chế động tác ít khớp vai, tỷ lệ 11%.
- - Sẹo mặt sau khuỷu tay trái, kích thước (3.7 x 0.3) cm, sẹo hồng, lồi, bờ sắc; gây đứt gân tam đầu cánh tay, đã phẫu thuật khâu nối, hiện tại không ảnh hưởng động tác khớp khuỷu, tỷ lệ 02%.
- Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Phạm Minh G tại thời điểm giám định (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư) là: 15%.
Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích trên do vật sắc gây nên.
* Kết luận giám định số 3089/KL-KTHS ngày 16 tháng 7 năm 2025 của P2 tại Thành phố Hồ Chí Minh: Cây dao bằng kim loại màu trắng dài 50 cm cán ốp gỗ, chiều dài lưỡi dao 36,5 cm, 01 bề lưỡi dao và 01 bề sống dao, mũi dao bầu nơi rộng nhất 5,5 cm, nơi hẹp nhất 3,6 cm là mã tấu thuộc Phụ lục 3 “Danh mục vũ khí thô sơ”.
Quá trình điều tra, bị cáo Lê Thái B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi dùng dao gây thương tích cho anh Phạm Minh G như nội dung vụ án.
Phạm Minh G trình bày như nội dung vụ án. Yêu cầu bồi thường 50.000.000 đồng.
Trần Thị Kim P1 trình bày như nội dung vụ án.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSKV9 ngày 20 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang đã truy tố Lê Thái B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Kiểm sát viên trình bày nội dung luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo Lê Thái B và đề nghị:
- + Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thái B từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- + Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao: Công nhận sự thỏa thuận giữa các bên: bị cáo Lê Thái B bồi thường cho bị hại Phạm Minh G số tiền 50.000.000đ.
- + Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao bằng kim loại màu trắng dài 50cm cán ốp gỗ, chiều dài lưỡi dao 36,5cm, 01 bề lưỡi dao và 01 bề sống dao, mũi dao bầu nơi rộng nhất 5,5 cm, nơi hẹp nhất 3,6cm; 01 cây dao xếp bằng kim loại được sơn màu đen dài 22 cm, lưỡi dao dài 9,5cm, rộng 02cm, mũi dao nhọn, 01 bề lưỡi dao và 01 bề sống dao; 01 cây chỉa bằng kim loại màu trắng dài 300cm được xếp thành đoạn, mỗi đoạn dài 100cm, đầu mũi chỉa được gắn 03 thanh kim loại mũi mài nhọn chiều dài mỗi thanh 16cm.
Bị cáo Lê Thái B khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Lê Thái B đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại Phạm Minh G số tiền 50.000.000đ. Bị cáo Lê Thái B nói lời sau cùng đã ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Phạm Minh G, trình bày: Yêu cầu bị cáo Lê Thái B bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 50.000.000đ và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Thái B thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ xác định:
Ngày 27 tháng 01 năm 2025, tại quán cà phê “Kênh Đào” thuộc khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang bị cáo Lê Thái B đã thực hiện hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém bị hại Phạm Minh G gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 15%.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Thái B có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm (tội phạm nghiêm trọng).
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang truy tố bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với:
Bị cáo Lê Thái B mang theo 01 cây dao xếp bằng kim loại và 01 cây chỉa bằng kim loại, thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” theo Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/4/2024 của Bộ C, quy định một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, nhằm xâm phạm sức khỏe. Tuy nhiên, bị cáo B không sử dụng các hung khí này để gây thương tích cho bị hại Phạm Minh G, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A không truy cứu bị cáo B về hành tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” là có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Bị cáo Lê Thái B là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết rõ việc dùng dao chém bị hại là nguy hiểm đến sức khoẻ của bị hại nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thái B là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, tinh thần của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thái B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thái B được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được tặng thưởng nhiều giấy khen trong quá trình thực hiện nghĩa vụ quân sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị cáo Lê Thái B đồng ý bồi thường số tiền 50.000.000đ theo yêu cầu của bị hại Phạm Minh G. Xét thấy, sự tự nguyện bồi thường của bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 cây dao bằng kim loại màu trắng dài 50cm cán ốp gỗ, chiều dài lưỡi dao 36,5cm, 01 bề lưỡi dao và 01 bề sống dao, mũi dao bầu nơi rộng nhất 5,5cm, nơi hẹp nhất 3,6cm; 01 cây dao xếp bằng kim loại được sơn màu đen dài 22cm, lưỡi dao dài 9,5cm, rộng 02cm, mũi dao nhọn, 01 bề lưỡi dao và 01 bề sống dao; 01 cây chỉa bằng kim loại màu trắng dài 300cm được xếp thành đoạn, mỗi đoạn dài 100cm, đầu mũi chỉa được gắn 03 thanh kim loại mũi mài nhọn chiều dài mỗi thanh 16cm đã thu giữ của bị cáo.
[7] Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Thái B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thái B 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 02 tháng 5 năm 2025).
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bị cáo Lê Thái B bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm cho bị hại Phạm Minh G số tiền 50.000.000đ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 cây dao bằng kim loại màu trắng dài 50cm cán ốp gỗ, chiều dài lưỡi dao 36,5cm, 01 bề lưỡi dao và 01 bề sống dao, mũi dao bầu nơi rộng nhất 5,5cm, nơi hẹp nhất 3,6cm; 01 cây dao xếp bằng kim loại được sơn màu đen dài 22cm, lưỡi dao dài 9,5cm, rộng 02cm, mũi dao nhọn, 01 bề lưỡi dao và 01 bề sống dao; 01 cây chỉa bằng kim loại màu trắng dài 300cm được xếp thành đoạn, mỗi đoạn dài 100cm, đầu mũi chỉa được gắn 03 thanh kim loại mũi mài nhọn chiều dài mỗi thanh 16cm đã thu giữ của bị cáo.
(Đặc điểm tang vật như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19 tháng 11 năm 2025).
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Lê Thái B phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo Lê Thái B và bị hại Phạm Minh G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Lan |
Bản án số 62/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 62/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thái B phạm tội cố ý gây thương tích
