Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HSST

Ngày 20/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Hợp; Ông Phan Tuấn

Thư ký phiên tòa: Ông Ma Đình Dũng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2025/TLHS-ST, ngày 27/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-HS, ngày 04/6/2025 đối với:

Bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1967.

Tên gọi khác: không. Giới tính: nam. Nơi cư trú: xóm B, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 7/10. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Bố: Nguyễn Văn Đ (đã chết); mẹ: Phạm Thị N (đã chết). Vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1967 và có 04 con.

- Tiền án: 02 tiền án:

  • + Bản án số 21/HSST ngày 25/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 72 ngày 27/5/2015 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Nguyễn Văn T 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, án phí 200.000 đồng, nộp tiền thu lời bất chính 400.000đ. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/3/2020. Chấp hành xong án phí và tiền thu lời bất chính ngày 07/8/2015.
  • + Bản án số 46/HSST ngày 20/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn T 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, án phí 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2023. Chấp hành xong án phí ngày 27/7/2022.

- Nhân thân: Quyết định số 9064 ngày 07/11/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Đ đưa Nguyễn Văn T vào chữa trị, cai nghiện, lao động phục hồi tại Trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội huyện Đ, vì lý do nghiện chất ma túy, với thời gian là 12 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt tại phiên toà).

Bị cáo: Họ và tên: Đào Văn H, sinh ngày 03 tháng 11 năm 1983.

Tên gọi khác: không. Giới tính: nam. Nơi cư trú: xóm L, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 7/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố: Đào Văn Q, sinh năm 1955; mẹ: Trần Thị V, sinh năm 1958. Vợ, con: chưa có.

- Tiền án, tiền sự: không.

- Nhân thân: Bản án số 92/HSST ngày 13/7/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên; Bản án số 829/HSPT ngày 20/9/2007 của Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt Đào Văn H 11 năm tù về tội “Giết người” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 93 BLHS năm 1999; xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS năm 1999. Tổng hợp hình phạt buộc Đào Văn H phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 18 năm tù. Bồi thường cho anh Phí Văn Đ1 số tiền 2.500.000 đồng; bồi thường cho ông Ngô Duy T1 số tiền 12.500.000 đồng; nộp án phí hình sự sơ thẩm là 50.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm là 637.500 đồng, án phí hình sự là 50.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/11/2019. Chấp hành xong án phí ngày 28/5/2010. Bồi thường cho ông Ngô Duy T1 ngày 20/9/2007. Đối với ông Phí Văn Đ1 xác định đã đồng ý miễn cho H, ông không yêu cầu H bồi thường.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt tại phiên toà).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1978 (có mặt)
  • Địa chỉ: tổ B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
  • + Anh Trần Hồng Q1, sinh năm 2001 (có mặt)
  • Địa chỉ: tổ B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
  • + Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1967 (có mặt)
  • Địa chỉ: xóm B, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

Người chứng kiến: Anh Đỗ Văn N1, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: xóm B, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau: Hồi 18 giờ 15 phút ngày 24/12/2024, Tổ công tác Công an xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực đường thuộc xóm B, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện 01 người nam giới, đang điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 20B2-211.38 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm về ma tuý. Tổ công tác tiếp cận, tiến hành kiểm tra hành chính thì người này chấp hành và khai nhận họ tên là Đào Văn H, sinh năm: 1983, trú tại: xóm L, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, đồng thời H tự giác lấy từ trong túi áo ở trên cánh tay phải của chiếc áo đang mặc ra 01 gói chất bột màu trắng, được gói bằng 01 tờ giấy màu trắng, một mặt có chữ giao nộp cho Tổ công tác. H khai nhận đây là chất ma tuý, loại Heroine của H mua của người nam giới không quen biết, có số điện thoại 0359.253.xxx, mục đích mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói chất bột màu trắng, được gói bằng 01 tờ giấy màu trắng, một mặt có chữ, (Niêm phong vào phong bì ký hiệu A); 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, cũ đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0395.948.915; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 20B2-211.38 (Dán niêm phong cốp xe).

Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, Công an xã V đã chuyển hồ sơ, đối tượng, vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình xác minh xác định gói chất ma túy nêu trên do Đào Văn H mua của Nguyễn Văn T, sinh năm 1967, trú tại: xóm B, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào hồi 18 giờ 10 phút ngày 24/12/2024 với số tiền là 150.000 đồng.

Căn cứ các tài liệu điều tra, xác minh, hồi 12 giờ 30 phút ngày 25/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Nguyễn Văn T. Kết quả khám xét, thu giữ: 01 (một) lọ nhựa màu trắng bên có chứa 01 gói chất bột màu trắng, bên ngoài được bọc gói bằng giấy màu trắng, một mặt có chữ (T khai nhận đây là chất ma tuý, loại Heroine của T, T lấy tại bàn trong bếp nhà T giao nộp), (niêm phong vào phong bì ký hiệu T); 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 20F5-2976, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Viettel, màu xanh, lắp sim thuê bao: 0389.483.126, (Niêm phong vào phong bì ký hiệu X).

Hồi 10 giờ 30 phút và 15 giờ 10 phút ngày 25/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K - Công an tỉnh T đã lần lượt tiến hành mở niêm phong, cân xác định:

  • + Số chất bột màu trắng thu giữ của H (trong phong bì niêm phong ký hiệu A) có khối lượng là 0,142 gam. (Niêm phong vào phong bì ký hiệu A1 làm mẫu giám định). Vỏ giấy gói, vỏ phong bì A được niêm phong vào phong bì ký hiệu A2.
  • + Số chất bột màu trắng, thu giữ của T (trong phong bì ký hiệu T), có khối lượng là 0,028 gam. (Niêm phong vào phong bì ký hiệu T1 làm mẫu giám định). Lọ nhựa, vỏ giấy gói, vỏ phong bì T được niêm phong vào phong bì ký hiệu T2.
  • + Tại Kết luận giám định số 98 ngày 02/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: “Chất bột màu trắng có trong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học D; khối lượng thu giữ ban đầu là 0,028 gam”.
  • + Tại Kết luận giám định số 99 ngày 02/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: “Chất bột màu trắng có trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H) có tên khoa học D; khối lượng thu giữ ban đầu là 0,142 gam”.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T và Đào Văn H khai như sau: Do bản thân là người nghiện chất ma tuý và không có việc làm ổn định nên T đã nảy sinh ý định đi mua chất ma tuý về chia ra bán lẻ nhằm kiếm lời sử dụng cho bản thân. Khoảng 14 giờ ngày 24/12/2024, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 20F5 - 2976 của gia đình T đi đến khu vực B thành phố T để tìm mua chất ma tuý. Tại đây, T đã gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi (T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này) và hỏi mua được 01 gói chất ma tuý loại Heroine được gói bằng giấy màu trắng có chữ với số tiền 150.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T mang về nhà cất giấu. Để tiện cho việc bán ma tuý, T lấy gói ma tuý nêu trên và chia thành 02 phần rồi gói vào mảnh giấy màu trắng có chữ. Đến khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, T nhận được điện thoại của Đào Văn H có số điện thoại là 0395.948.xxx gọi đến số điện thoại 0359.253.xxx của T và hỏi mua chất ma tuý với số tiền là 150.000 đồng, loại Heroine thì T đồng ý bán và hẹn H đến khu vực đường đất thuộc cánh đồng xóm B, xã V, huyện Đ để giao dịch mua bán ma túy. Đến khoảng 18 giờ 05 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 20B2-211.38 (là xe mượn của chị Phạm Thị H1, sinh năm 1983, trú tại: tổ B, phường Q, thành phố T, là vợ chưa cưới của H) đi đến đợi tại điểm hẹn trên rồi gọi điện lại cho T và hỏi “Anh ra chưa” thì T trả lời “Anh đang ra, chờ anh tỷ” rồi T cầm theo 01 gói chất ma tuý (trong số 02 gói ma tuý T đã chia, 01 gói ma tuý còn lại T cất ở bàn trong gian bếp nhà T) rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 20F5-2976 đi đến điểm hẹn. Khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, T đến điểm hẹn tại đoạn đường đất cạnh mương nước thuộc xóm B, xã V gặp H đang đứng chờ, H đưa cho T số tiền 150.000 đồng để mua ma tuý, T nhận tiền rồi đưa lại cho H 01 gói chất ma tuý, loại Heroine, sau đó cả hai ra về. Khi H về đến khu vực đường liên xóm thuộc xóm B, xã V thì bị Tổ công tác Công an xã V bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nên trên.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T biết H đã bị Công an bắt và thu giữ gói ma tuý mà T bán cho H nên T đã mang chiếc điện thoại di động của T (không nhớ nhãn hiệu), có gắn sim thuê bao 0359253156 đi đến cầu tràn thuộc giáp ranh giữa xóm B và xóm B, xã V ném xuống suối để tiêu huỷ chứng cứ. Còn 01 gói ma tuý để ở tại gian bếp của T thì đã bị Cơ quan điều tra phát hiện thu giữ khi thi hành lệnh khám xét nơi ở của T.

Lời khai nhận của Nguyễn Văn T, Đào Văn H phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, Biên bản kiểm tra dữ liệu trong điện thoại của Đào Văn H, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát: 20B2 - 211.38 C Kết quả xác minh là xe của anh Trần Hồng Q1 (sinh năm 2001, trú tại: tổ B, phường Q, thành phố T, là con của chị Phạm Thị H1). Ngày 06/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã trả lại xe cho chị Phạm Thị H1 quản lý; 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 (bên trong là mẫu ma túy thu giữ của H còn lại sau giám định, vỏ gói ma túy và vỏ phong bì A; 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, cũ đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0395.948.915; 02 phong bì ký hiệu T1, T2 (bên trong chứa chất ma túy của T còn lại sau giám định, vỏ gói chất ma túy của T); 01 điện thoại nhãn hiệu Viettel, vỏ màu xanh, bên trong lắp sim số 0389.483.126 (thu của T); 01 xe mô tô Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 20F5-2976, số khung CHLOXY-3002215, số máy 152FM00032400 (thu giữ của T): Kết quả xác minh là xe mô tô nhãn hiệu Wakeup, sơn màu xanh, số máy 152FM00032400, số khung L11XCHL0XY3002215, biển kiểm soát: 20F5-2976, chủ xe là Nguyễn Vinh H2 (sinh năm 1960, trú tại: xóm Đ, phường T, thành phố T), không có trong dữ liệu xe vật chứng. Công an phường T xác định không có xóm Đ thuộc phường T, không có công dân mang tên Nguyễn Vinh H2. Số vật chứng còn lại trên đang được bảo quản, lưu giữ tại kho vật chứng và tài khoản của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ; 01 (một) chiếc điện thoại bên trong lắp sim số thuê bao 0359.235.156 của Nguyễn Văn T đã vứt ở cầu tràn giáp ranh giữa xóm B và xóm B, xã V: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không thấy, không thu giữ được.

Cáo trạng số 62/CT-VKSĐT, ngày 23/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố Đào Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể như sau:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; tuyên bố bị cáo Đào Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 3 đến 4 năm tù.
  3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Văn H từ 24 đến 30 tháng tù.

  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Văn H, Nguyễn Văn T.
  5. Về xử lý vật chứng vụ án: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Buộc bị cáo T nộp lại số tiền 150.000 đồng là tiền bán ma tuý cho bị cáo H;
    • - Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 (bên trong là mẫu ma túy thu giữ của H còn lại sau giám định, vỏ gói ma túy và vỏ phong bì A; 02 phong bì ký hiệu T1, T2 (bên trong chứa chất ma túy của T còn lại sau giám định, vỏ gói chất ma túy của T);
    • - Tịch thu sung công quỹ 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, cũ đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0395.948.915 (thu giữ của H);
    • - Tạm giữ của bị cáo T 01 điện thoại nhãn hiệu Viettel, vỏ màu xanh, bên trong lắp sim số 0389.483.126 để đảm bảo việc thi hành án;
    • - Hoàn trả cho bị cáo T 01 xe mô tô Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 20F5-2976, số khung CHLOXY-3002215, số máy 152FM00032400:
  6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì; các bị cáo thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Các bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Theo kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 24/12/2024, tại đường L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi bán trái phép 0,142 gam chất ma túy, loại Heroine cho Đào Văn H. Khi H đang đi trên đường thuộc xóm B, xã V để đem chất ma túy về nhà để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã V phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 25 tháng 12 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm đối với Nguyễn Văn T thu giữ 0,028 gam chất ma túy, loại Heroine. Mục đích T tàng trữ để bán kiếm lời. Tổng khối lượng chất ma túy của T sử dụng để bán kiếm lời là: Khối lượng 0,142 gam (là chất Heroine T2 đã bán cho H) + 0,028 gam (là chất Heroine thu giữ khi khám xét nhà T2) = 0,170 gam.

Hành vi bán trái phép 0,142 gam chất ma tuý, loại Heroin của bị cáo T2 cho bị cáo H ngày 24/12/2024 và tàng trữ 0,028 gam chất ma tuý loại Heroin mục đích để bán kiếm lời của bị cáo T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Nội dung Điều luật quy định như sau:

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm"...

Hành vi tàng trữ 0,142 gam chất ma tuý, loại Heroin của bị cáo Đào Văn H ngày 24/12/2024 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung Điều luật quy định như sau:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

......

c, Heroine..... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”...

[3]. Xét tính chất hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, suy hao kinh tế là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo trong vụ án thì thấy:

Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H có bố đẻ là ông Đào Văn Q được Ban chấp hành Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh T cấp “Giấy chứng nhận thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến chống Mỹ”. Bị cáo T2 có bố đẻ là ông Nguyễn Văn Đ được Nhà nước tặng thưởng “Huân chương kháng chiến hạng 3” và mẹ đẻ là bà Phạm Thị N được UBND tỉnh T tặng thưởng “Bằng khen đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự..

Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T2 phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân các bị cáo: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo T2 có 02 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý; bị cáo H từng bị Toà án xét xử về tội Giết người và bị UBND huyện Đ đưa đi cai nghiện; tuy nhiên các bị cáo không biết lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội mà lao vào con đường phạm tội thể hiện lỗi cố ý trực tiếp và thể hiện ý thức coi thường pháp luật.

[5]. Về mức hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo T2 mức án từ 42 đến 48 tháng tù, xử phạt bị cáo H mức án từ 24 đến 30 tháng tù và buộc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét thấy các bị cáo là người nghiện không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[7] Về vật chứng của vụ án:

  • - Số 150.000 đồng là tiền bị cáo T2 bán ma tuý cho bị cáo H, đây là tiền thu lời bất chính nên cần buộc bị cáo T2 nộp số tiền trên.
  • - 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 (bên trong là mẫu ma túy thu giữ của H còn lại sau giám định, vỏ gói ma túy và vỏ phong bì A); 02 phong bì ký hiệu T1, T2 (bên trong chứa chất ma túy của T2 còn lại sau giám định, vỏ gói chất ma túy của T2); đây là vật chứng và là vật có liên quan đến vụ án, Nhà nước cấm lưu hành, cần được tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, cũ đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0395.948.915 thu giữ của bị cáo H; xét thấy bị cáo dùng điện thoại vào mục đích mua trái phép chất ma tuý để sử dụng nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu Viettel, vỏ màu xanh, bên trong lắp sim số 0389.483.126 (thu giữ của T2); bị cáo không dùng vào việc mua bán trái phép chất ma tuý, theo quy định phải trả cho bị cáo, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
  • - 01 xe mô tô Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 20F5-2976, số khung CHLOXY-3002215, số máy 152FM000324001; cáo dùng vào mục đích đi mua trái phép chất ma tuý ngày 24/12/2024 tại thành phố T và đi bán trái phép chất ma tuý cho bị cáo H ngày 24/12/2024 nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Mặt khác, bà Nguyễn Thị S cũng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung công quỹ đối với chiếc xe trên.

[8]. Vấn đề khác: Về nguồn gốc chất Heroine: Nguyễn Văn T khai mua ma túy của người đàn ông biết nhân thân, lai lịch tại khu vực B thành phố T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.

Đối với anh Trần Hồng Q1 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 20B2 - 311.38, chị Phạm Thị H1 là người cho H mượn chiếc xe mô tô trên, chị Nguyễn Thị S là người cho T mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 20F5-2976. Nhưng anh Q1 và chị H1 không biết H điều khiển xe mô tô đi mua chất ma túy, chị S không biết T điều khiển xe mô tô đi bán chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh T không xử lý đối với anh Q1, chị H1, chị S.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

[10]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý";
  2. Tuyên bố bị cáo Đào Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  3. Về hình phạt chính:
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/12/2024.

    • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Đào Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/12/2024.

  4. Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam các bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
  5. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  6. Về vật chứng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp lại số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền thu lời bất chính.
    • - Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 (bên trong là mẫu ma túy thu giữ của H còn lại sau giám định, vỏ gói ma túy và vỏ phong bì A; 02 phong bì ký hiệu T1, T2 (bên trong chứa chất ma túy của T còn lại sau giám định, vỏ gói chất ma túy của T;
    • - Tịch thu sung công quỹ 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, cũ đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0395.948.915;
    • - Tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Viettel, vỏ màu xanh, bên trong lắp sim số 0389.483.126 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Nguyễn Văn T.
    • - Tịch thu sung công quỹ 01 xe mô tô Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 20F5-2976, số khung CHLOXY-3002215, số máy 152FM000324001.
    • (Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T với Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ).

  7. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T, Đào Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
  8. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - CQ CSĐT Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Đại Từ;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện Đại Từ;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Xuân Mừng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HSST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự: mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 62/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger