Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2025/HS-PT

Ngày: 01 – 4 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Thẩm phán: Ông Lê Khắc Thịnh.

Ông Nguyễn Ngọc Thông.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Ngọc Quí - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/TLPT-HS ngày 07/02/2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Thị T, sinh ngày 10/01/1969 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nữ; nơi cư trú: Ấp R, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Hoàng O (chết) và con bà Nguyễn Thị Y (chết); có chồng và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không. tạm giữ: Không; tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị T:

Luật sư Huỳnh Văn C – Thành viên Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại Phan Thị Thùy L không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 22/5/2024, Nguyễn Thị T đi từ nhà tại ấp R, xã T, huyện T đến nhà chị ruột là bà Nguyễn Thị N tại ấp L, xã L, huyện H nói là đi tìm Phan Thị Thùy L (là chị chồng của T), ngụ cùng ấp L để giải quyết mâu thuẫn trước đó. Sợ xảy ra chuyện nên chị N và Trần Thị Diễm H (con ruột chị N) cùng đi với T.

Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến nơi, thấy L đứng nói chuyện tại nhà Lê Thị H1, T lấy đoạn cây ổi dài 1,76 mét cầm trên tay đi về hướng L và nói: “Bữa đó bà đánh tôi, giờ tôi đánh bà lại”. T đứng đối diện L và cầm đoạn cây ổi bằng hai tay đánh hướng xéo từ trên xuống, từ phải sang trái trúng vào cánh tay trái và gối chân trái làm L té xuống đất, phần mông trái tiếp xúc với mặt đất. Lúc này, T ném bỏ cây, dùng tay trái nắm tóc L ghị xuống đất, tay phải đánh vùng đầu L, được Nguyễn Thị N1 và Lê Thị H1 can ngăn nên L bỏ chạy. T tiếp tục tìm L để đánh nhưng không tìm được. Lực lượng Công an xã L đến nên T, N, H ra về. Bà L được mọi người đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đ từ ngày 22 đến ngày 29/5/2024 và từ ngày 02 đến ngày 07/6/2024.

Ngày 03/6/2024, Phan Thị Thùy L làm đơn yêu cầu giám định tỷ lệ thương tích và yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Thị T.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 362/KLTTCT-TTPYĐT ngày 27/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: Sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài gối trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương 01%. Vết biến đổi sắc tố da mông trái. Tỷ lệ tổn thương 01%. Chấn thương phần mềm đỉnh – chẩm trái, mặt trái, ngực trái, khuỷu tay trái, mu bàn tay trái, mắt cá ngoài chân trái hiện tại không dấu vết tổn thương; Không cho tỷ lệ phần trăm. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Thị Thùy L tại thời điểm giám định là 02% (Hai phần trăm).

Kết luận khác: Cơ chế hình thành các tổn thương do ngoại lực tác động. Các tổn thương trên do vật tày gây ra. Sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài gối trái có chiều hướng tác động từ trái sang phải. Vết biến đổi sắc tố da mông trái có chiều hướng tác động từ sau ra trước. Chấn thương phần mềm đỉnh – chẩm trái, mặt trái, ngực trái, khuỷu tay trái, mu bàn tay trái, mắt cá ngoài chân trái hiện tại không dấu vết tổn thương nên không xác định được chiều hướng tác động.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 đoạn cây gỗ khô (me tây) có tổng chiều dài là 48,5cm; trọng lượng 300 gram; đoạn giữa khúc gỗ có bề hoành 14cm; khúc gỗ có hai đầu chặt xéo (nhọn), đoạn giữa đoạn cây có hai nhánh nhỏ đã bị chặt ngắn; nhánh thứ nhất dài 04cm, nhánh thứ hai dài 6,5cm (do Nguyễn Thị T giao nộp). T xác định đây là đoạn cây T sử dụng gây thương tích cho bị hại L.
  • - 01 đoạn cây gỗ khô (cây ổi) có tổng chiều dài 1,76 mét; trọng lượng 1,48kg; đoạn cây có một đầu chặt xéo (nhọn). Một đầu được chia làm hai nhánh nhỏ; có nhiều nhánh được chặt xéo (do bà Lê Thị H1 giao nộp). Bị hại L và người làm chứng H1 xác định đây là đoạn cây mà bị cáo T sử dụng gây thương tích cho bị hại L.

Ngày 09/9/2024, Cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra:

  • - Nguyễn Thị T cầm đoạn cây còng dài 48,5cm bằng tay phải, đánh hướng ngang từ phải sang trái không trúng vào tay trái và gối trái của bị hại L (do Phạm Văn Q đóng thế), nên lời khai của T khai nhận cầm đoạn cây còng dài 48,5cm gây thương tích cho bị hại L là không phù hợp.
  • - Người làm chứng Lê Thị H1 cầm đoạn cây ổi dài 1,76 mét bằng hai tay đánh 02 cái hướng xéo từ trên xuống, từ phải sang trái, trúng tay trái và đầu gối trái của bị hại L (do Phạm Văn Q đóng thế).
  • - Bị hại Phan Thị Thùy L thực hiện hành vi mô tả bị cáo T cầm đoạn cây ổi dài 1,76 mét bằng hai tay, đánh 02 cái hướng xéo từ trên xuống, từ phải sang trái trúng vào tay trái và đầu gối trái của Phạm Văn Q (đóng thế vị trí bị hại L). Sau đó, Q té xuống đất phần mông trái tiếp xúc mặt đất theo mô tả của bị hại L.

Qua kết quả thực nghiệm điều tra và căn cứ lời khai bị hại Phan Thị Thùy L, người làm chứng Lê Thị H1 và Nguyễn Thị N1, có căn cứ xác định hung khí Nguyễn Thị T sử dụng gây thương tích cho Phan Thị Thùy L là đoạn cây gỗ khô (cây ổi) có tổng chiều dài 1,76 mét, trọng lượng 1,48kg.

Về trách nhiệm dân sự: Tại Biên bản thỏa thuận dân sự ngày 08/7/2024: Phan Thị Thùy L yêu cầu Nguyễn Thị T bồi thường tổng số tiền là 29.327.000 đồng, không đồng ý rút yêu cầu xử lý hình sự, yêu cầu bồi thường gồm:

  • - Chi phí từ ngày 22 đến ngày 29/5/2024: Viện phí là 896.745 đồng; ăn uống khi nằm viện, mỗi ngày 300.000 đồng, là 2.400.000 đồng; ngày công lao động của bà L, mỗi ngày 170.000 đồng x 08 ngày, là 1.360.000 đồng; thuê xe xuất viện 600.000 đồng; ngày công lao động của người nuôi, mỗi ngày 300.000 đồng x 08 ngày, là 2.400.000 đồng.
  • - Chi phí từ ngày 02 đến ngày 07/6/2024: Viện phí là 1.530.567 đồng; ăn uống khi nằm viện mỗi ngày 300.000 đồng, là 1.800.000 đồng; ngày công lao động của bà L, mỗi ngày 170.000 đồng x 06 ngày, là 1.020.000 đồng; Thuê xe nhập viện và xuất viện 1.200.000 đồng; công lao động của người nuôi, mỗi ngày 170.000 đồng x 06 ngày, là 1.020.000 đồng.
  • - Thiệt hại ngày công lao động của bà L từ ngày 08/6 đến ngày 07/7/2024, mỗi ngày 170.000 đồng x 30 ngày, tổng cộng là 5.100.000 đồng.
  • - Tiền tổn thất tinh thần là 10.000.000 đồng.

Bị cáo T chỉ đồng ý bồi thường nếu bị hại L rút đơn yêu cầu xử lý hình sự. Ngày 14/11/2024, bị cáo T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự số tiền 3.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử và quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự, công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo với bị hại:

- Bị cáo Nguyễn Thị T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Phan Thị Thùy L số tiền 16.197.000 đồng, đã nộp trước 3.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002138 ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, còn lại 13.197.000 đồng (Mười ba triệu một trăm chín mươi bảy nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, nêu quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 03/01/2024, bị cáo Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo thừa nhận đã có hành vi cầm đoạn cây gỗ là hung khí nguy hiểm đánh bị hại Phan Thị Thùy L gây ra tỷ lệ tổn thương cơ thể 02%. Bị cáo thừa nhận Bản án sơ thẩm kết án bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo nhận thấy mức án 04 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là nặng, nay bị cáo kháng cáo xin Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, vì bị cáo không có chuẩn bị sẵn hung khí, bị cáo lấy hung khí tại hiện trường do người dân phơi củi để làm chất đốt, cây đã được phơi nắng qua nhiều ngày nên không còn nguy hiểm nữa; trước đó bà L đến nhà mẹ chồng của bị cáo tại ấp R, xã T, huyện T đánh bị cáo, vì quá bức xúc nên ngày 22/5/2024 bị cáo đánh lại; sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và phân tích những sai lầm, khuyết điểm thì bị cáo hối hận và đã mang số tiền 14.056.000 đồng nộp cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự để khắc phục hậu quả theo bản án sơ thẩm đã tuyên. Từ các lý do đó, bị cáo xin Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm phân tích các tình tiết và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đánh giá quá trình xét xử tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và khẳng định việc Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tuyên án bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo dưới mức dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố, xét xử là đã có chiếu cố bị cáo. Nay bị cáo T kháng cáo xin hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu: Luật sư thống nhất về hành vi và tội danh mà Bản án sơ thẩm đã kết án bị cáo, nhưng Luật sư cho rằng hình phạt mà Toà án sơ thẩm tuyên xử bị cáo là có phần nghiêm khắc; đồng thời, có nhiều tình tiết của vụ án chưa được Toà án cấp sơ thẩm đề cập làm rõ. Trước tiên là về hung khí nguy hiểm, Toà án sơ thẩm xác định hung khí trong vụ án này là 01 cây khô, nhưng chưa làm rõ mức độ nguy hiểm của hung khí vì hung khí nguy hiểm có nhiều dạng là hung khí nguy hiểm cao và hung khí nguy hiểm thấp, lẽ ra Toà án cấp sơ thẩm phải xác định cho đúng để lượng hình. Cây càng ngắn thì lực đánh càng mạnh, cây càng dài thì lực đánh càng yếu nên ít nguy hiểm hơn. Thứ hai, ngày 20/5/2024 bị hại đánh bị cáo, do bị cáo có trình độ thấp nên không biết là phải đi báo chính quyền địa phương, do quá bức xúc nên đến ngày 22/5/2024 bị cáo đi ra xã L, huyện H để đánh lại bị hại. Vì vậy, Luật sư đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” theo điểm e khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Thứ ba, về trách nhiệm bồi thường dân sự, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo nộp tiền bồi thường thêm là 13.197.000 đồng, nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 659.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 14.056.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự; đây là các tình tiết mới phát sinh tại Toà án cấp phúc thẩm. Từ các phân tích trên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm và cho bị cáo được hưởng án treo.

Trong phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Thị T không tham gia tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị T đã thừa nhận hành vi phạm tội được nêu trong Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 27/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Xuất phát từ mâu thuẫn không lớn, bị cáo đã có hành vi cầm đoạn cây gỗ là hung khí nguy hiểm đánh bị hại Phan Thị Thùy L gây ra tỷ lệ tổn thương cơ thể cho bị hại là 02%. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

[2] Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo với lý do bị cáo không chuẩn bị sẵn hung khí, bị cáo lấy hung khí tại hiện trường, cây đã được phơi nắng qua nhiều ngày nên không còn nguy hiểm nữa; trước đó bị hại có đánh bị cáo, vì quá bức xúc nên ngày 22/5/2024 bị cáo mới đánh lại. Nay bị cáo rất hối hận và đã nộp số tiền 14.056.000 đồng để bồi thường khắc phục hậu quả, nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, trong vụ án này Toà án cấp sơ thẩm xác định hung khí nguy hiểm không chỉ dựa vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại mà còn dựa vào vật chứng thu giữ được hiện trường, lời khai của người làm chứng, quá trình thực nghiệm điều tra, cơ chế hình thành vết thương, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Kết quả điều tra, xét xử không có cơ sở để xác định hung khí trong vụ án được phơi nắng qua nhiều ngày nên không còn nguy hiểm. Đồng thời, cũng chưa có cơ sở để khẳng định hung khí là cây dài thì ít nguy hiểm hơn hung khí là cây ngắn, mà tính nguy hiểm và độ sát thương của hung khí còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: Vị trí của người đánh so với vị trí của người bị đánh, khoảng cách đánh, hướng chuyển động của hung khí, lực đánh, điểm va chạm v.v... Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Xét thấy, theo lời khai của bị cáo Nguyễn Thị T thì ngày 20/5/2024 bị cáo bị bị hại đánh, nên ngày 22/5/2024 bị cáo mới tìm bị hại đánh lại. Theo lời khai này thì việc bị hại đánh bị cáo đã chấm dứt, bị hại không còn tiếp tục tấn công hoặc đe doạ, uy hiếp bị cáo, nên không có cơ sở để xác định tinh thần của bị cáo bị bị hại uy hiếp. Trái lại, bị cáo đã tự liên hệ, thu thập thông tin, xác định vị trí của bị hại rồi đi từ ấp R, xã T, huyện T đến ấp L, xã L, huyện H để đánh bị hại, hành vi này thể hiện ý chí quyết liệt của bị cáo muốn đánh bị hại. Vì vậy không có cơ sở để áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” theo điểm e khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo do bị cáo đã bồi thường được một phần thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Toà án cấp sơ thẩm còn nhận định bị cáo là thành phần nhân dân lao động, trình độ học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, tại phiên tòa đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho bị hại, nên xem xét là tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng quy định của Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt của bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Việc quyết định hình phạt như phân tích trên là đúng pháp luật và đã có chiếu cố đến bị cáo, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Nay bị cáo kháng cáo và có nộp số tiền 14.056.000 đồng, trong đó đã nộp xong tiền bồi thường theo bản án sơ thẩm tuyên là 13.197.000 đồng. Đây là tình tiết mới phát sinh tại Toà án cấp phúc thẩm nhưng việc quyết định hình phạt của Toà án cấp phúc thẩm là phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Tại Toà án cấp phúc thẩm, bị cáo nộp được 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 659.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xét thấy, việc bị cáo nộp án phí là nghĩa vụ của bị cáo phải thi hành, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo vì tình tiết này.

[4] Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị T, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

[5] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận, không có cơ sở để chấp nhận quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo T, lý do đã được phân tích ở các phần trên.

[6] Bị hại Phan Thị Thùy L được đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp để nhận số tiền 13.197.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Thị T bồi thường theo quy định của pháp luật. Tiếp tục quản lý số tiền 13.197.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Thị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp theo Biên lai thu số 0002074 ngày 02/01/2025 để bảo đảm thi hành án.

[7] Bị cáo Nguyễn Thị T đã nộp xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 659.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tiếp tục quản lý số tiền 859.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Thị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp theo Biên lai thu số 0002074 ngày 02/01/2025 để bảo đảm thi hành án.

[8] Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[9] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị T.

    Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị T.

  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

  3. Bị hại Phan Thị Thùy L được đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp để nhận số tiền 13.197.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Thị T bồi thường theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Thị T đã thi hành xong phần bồi thường dân sự mà bản án sơ thẩm đã tuyên. Tiếp tục quản lý số tiền 13.197.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Thị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp theo Biên lai thu số 0002074 ngày 02/01/2025 để bảo đảm thi hành án.
  4. Về án phí hình sự phúc thẩm:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  5. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TANDTC;
  • - Ban Nội chính Tỉnh uỷ;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Cơ quan THA Hình sự Công an Tỉnh;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng T.tra, K.Tra, THA TAND Tỉnh;
  • - TAND huyện Hồng Ngự (2b);
  • - VKSND huyện Hồng Ngự;
  • - Chi cục THADS huyện Hồng Ngự;
  • - Công an xã Tân Công Chí, huyện Tân Hồng;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: HS, VT (Loan).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 62/2025/HS-PT ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 62/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger